Chiến lược mới trả lời 3 câu hỏi lớn về lao động đi làm việc ở nước ngoài

(Dân trí) - Chiến lược đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài đang được xây dựng, tập trung làm rõ thị trường, ngành nghề và cách tổ chức nguồn nhân lực trong bối cảnh mới.

Chiều 23/3, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Vũ Chiến Thắng chủ trì họp ban soạn thảo xây dựng Chiến lược đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng từ nay đến năm 2030, tầm nhìn 2045. 

Chiến lược mới trả lời 3 câu hỏi lớn về lao động đi làm việc ở nước ngoài - 1

Thứ trưởng Vũ Chiến Thắng chủ trì họp ban soạn thảo (Ảnh: Nguyễn Hằng).

Xuất khẩu lao động trước yêu cầu tái định hướng

Ông Vũ Trường Giang, quyền Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Nội vụ), cho biết những năm gần đây, công tác đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài đạt nhiều kết quả tích cực, với mỗi năm có khoảng 140.000-160.000 người đi làm việc theo hợp đồng.

Hiện có gần 900.000 lao động Việt Nam đang làm việc tại hơn 57 quốc gia và vùng lãnh thổ, tập trung chủ yếu tại Nhật Bản, Đài Loan (Trung Quốc) và Hàn Quốc. Lực lượng này góp phần quan trọng giải quyết việc làm, giảm áp lực cho thị trường lao động trong nước, đặc biệt trong bối cảnh lao động phổ thông còn dư thừa, tỷ lệ thất nghiệp thanh niên cao hơn mức chung.

Giai đoạn 2020-2023, kiều hối duy trì ở mức 4-5% GDP, trong đó nguồn từ lao động ở nước ngoài chiếm khoảng 30-40%, tương đương 6-7 tỷ USD mỗi năm, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tiêu dùng, đầu tư và cải thiện đời sống người dân.

Bên cạnh đó, hoạt động đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài còn góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua tiếp thu công nghệ, kỹ năng sản xuất hiện đại và tác phong công nghiệp.

Chiến lược mới trả lời 3 câu hỏi lớn về lao động đi làm việc ở nước ngoài - 2

Ông Vũ Trường Giang, quyền Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước (Ảnh: Nguyễn Hằng).

Nhiều lao động sau khi về nước đã trở thành lực lượng có tay nghề, tham gia vào các chuỗi cung ứng và sản xuất trong nước, góp phần thu hút đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đồng thời, cộng đồng người lao động Việt Nam ở nước ngoài cũng đóng vai trò cầu nối trong quan hệ hợp tác quốc tế, lan tỏa hình ảnh đất nước và con người Việt Nam.

Tuy nhiên, theo ông Giang, bối cảnh mới đặt ra yêu cầu điều chỉnh chính sách. Khoảng cách thu nhập giữa trong nước và nước ngoài đang thu hẹp, cơ hội việc làm trong nước gia tăng, trong khi tốc độ già hóa dân số có thể làm suy giảm nguồn cung lao động.

Chuyển hướng sang nhân lực chất lượng cao

Cùng với đó, hơn 70% lực lượng lao động trong nước chưa có bằng cấp, chứng chỉ nghề, khiến cơ cấu lao động đi làm việc ở nước ngoài vẫn chủ yếu là lao động phổ thông. Do đó, định hướng thời gian tới cần chuyển mạnh sang phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua “vòng tuần hoàn lao động”, đưa lao động có kỹ năng, chuyên môn ra nước ngoài để học hỏi, tiếp thu công nghệ, sau đó quay trở lại đóng góp cho nền kinh tế.

Ông Giang cũng cho biết, thực tiễn đang xuất hiện nhiều hình thức đi làm việc ở nước ngoài mới như thông qua thỏa thuận quốc tế giữa địa phương, liên kết đào tạo - tuyển dụng với doanh nghiệp nước ngoài, di chuyển nội bộ trong các tập đoàn đa quốc gia hay kết hợp giữa du học nghề và làm việc. Tuy nhiên, một số hình thức phát sinh rủi ro như thu phí trái phép, tranh chấp lao động, đòi hỏi phải hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và tăng cường quản lý.

Trong bối cảnh đó, chiến lược tới đây cần gắn với ba đột phá chiến lược của đất nước, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý, xây dựng hệ thống dữ liệu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo để giám sát, cảnh báo sớm vi phạm, đồng thời tiếp tục phân cấp, nâng cao năng lực thực thi của địa phương, bảo đảm quản lý hiệu quả, minh bạch và phù hợp với thông lệ quốc tế.

Ba câu hỏi cốt lõi cho chiến lược mới

Góp ý cho đề án, TS Bùi Sĩ Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Người có công (Bộ Nội vụ) cho rằng chiến lược cần trả lời rõ ba câu hỏi cốt lõi: đi thị trường nào, làm ngành nghề gì và tổ chức nguồn nhân lực ra sao.

Theo ông, nếu không có phân tích cụ thể về từng thị trường thì “rất khó chạm được mục tiêu”. Ông nhấn mạnh cần xác định rõ nhu cầu, mức lương, điều kiện làm việc của từng thị trường, đồng thời đối chiếu với thị trường trong nước để nhận diện “khoảng trống”. 

Chiến lược mới trả lời 3 câu hỏi lớn về lao động đi làm việc ở nước ngoài - 3

TS Bùi Sĩ Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Người có công phát biểu tại buổi họp (Ảnh: Nguyễn Hằng).

Ông Tuấn cho rằng, việc xây dựng hiệu quả chiến lược đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài sẽ góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số theo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Theo ông, ngoài việc mỗi năm hoạt động này đóng góp hàng tỷ USD cho GDP, nó cũng thúc đẩy thương mại, xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển du lịch và tăng cường giao lưu văn hóa. Ông cũng nhấn mạnh, chiến lược cần được đặt trong mối liên hệ với việc xây dựng, phát triển cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, qua đó tạo nền tảng lâu dài cho hợp tác và hội nhập.

Ở góc độ ngoại giao, bà Phan Thị Minh Giang, Phó Cục trưởng Cục Lãnh sự (Bộ Ngoại giao), đề xuất tiếp cận theo chuỗi 3 giai đoạn: trước khi đi, trong khi làm việc và sau khi về nước. Đồng thời, bà cho rằng cần lưu ý chiến lược cần gắn với bối cảnh trong nước, nhất là xu hướng già hóa dân số. Theo bà, cần chuyển từ mục tiêu giải quyết việc làm sang phát triển nguồn nhân lực dài hạn.

Trong khi đó, ông Đỗ Minh Hoài, Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, đề xuất cách tiếp cận mới khi coi việc đưa lao động ra nước ngoài là công cụ tích lũy vốn nhân lực quốc gia.

“Không chỉ là đi làm để có việc làm, mà là kênh tiếp nhận công nghệ, kỹ năng và phục vụ chiến lược phát triển nguồn nhân lực”, ông nói.

Theo ông, chiến lược nên xoay quanh 4 trụ cột, gồm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đa dạng hóa thị trường theo hướng bền vững; hoàn thiện hệ thống quản trị, bảo vệ người lao động; và gắn cung ứng lao động với chiến lược phát triển dài hạn đến năm 2045.

Ông cũng nhấn mạnh cần coi lực lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài là một bộ phận của nguồn nhân lực quốc gia, từ đó có chính sách để khi trở về, họ có thể “bổ sung cho thị trường lao động trong nước, tham gia chuyển giao công nghệ và khởi nghiệp”, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế.

Chiến lược mới trả lời 3 câu hỏi lớn về lao động đi làm việc ở nước ngoài - 4

Thứ trưởng Bộ Nội vụ Vũ Chiến Thắng phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp (Ảnh: Nguyễn Hằng).

Thứ trưởng Bộ Nội vụ Vũ Chiến Thắng ghi nhận các ý kiến đóng góp của đại biểu, đồng thời đề nghị các cơ quan, đơn vị liên quan tiếp thu, khẩn trương hoàn thiện dự thảo chiến lược.

"Chiến lược của Chính phủ đến năm 2030, tầm nhìn 2045 phải có tầm vóc đủ lớn. Đặc biệt, mốc 2045 - kỷ niệm 100 năm thành lập nước - là thời điểm Việt Nam hướng tới trở thành quốc gia phát triển, do đó mục tiêu chiến lược cần tương xứng với tầm nhìn này", Thứ trưởng nhấn mạnh. 

Đọc nhiều trong Lao động - Việc làm