(Dân trí) - Đầu tư công, nâng cấp công nghiệp, phát triển dịch vụ du lịch giá trị cao và kết nối các cực tăng trưởng là những ưu tiên sẽ quyết định khả năng bứt phá của TPHCM trong chặng nước rút năm 2026.
Phóng viên báo Dân trí đã trao đổi với TS Đỗ Thiên Anh Tuấn, Trường Chính sách công và quản lý Fulbright, xung quanh những giải pháp có thể tạo sự bứt phá cho kinh tế TPHCM tăng trưởng 2 con số.


Việc xác định ngành đầu tàu không thể chỉ dựa vào tốc độ tăng trưởng. Một ngành tăng trưởng rất cao nhưng quy mô nhỏ không đóng góp nhiều vào tăng trưởng GRDP. Ngược lại, một ngành có tỷ trọng lớn dù tăng ở mức vừa phải vẫn có thể đóng góp lớn vào mức tăng trưởng chung. Còn phải xét đến khả năng lan tỏa của ngành đó tới đầu tư, việc làm, cải thiện năng suất và hoạt động của các ngành khác.
Theo cách tiếp cận này, dịch vụ vẫn là đầu tàu hiện tại của TPHCM. Sáu tháng đầu năm 2026, khu vực dịch vụ chiếm khoảng 54% GRDP và tăng 8,89%, trong khi công nghiệp và xây dựng chiếm khoảng 32,8% và tăng 8,5%. Với quy mô lớn nhất, dịch vụ tiếp tục tạo ra hơn một nửa mức tăng trưởng GRDP của thành phố.

Có thể phân chia thành ba khía cạnh động lực tăng trưởng với đầu tàu hiện tại là các ngành dịch vụ thị trường có quy mô lớn như thương mại, vận tải, kho bãi, các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp... Đây là nhóm đang đóng góp trực tiếp lớn nhất vào GRDP của thành phố 6 tháng qua.
Động lực tăng tốc trong ngắn hạn là công nghiệp chế biến, chế tạo, xây dựng, đầu tư cơ sở hạ tầng, tiêu dùng, du lịch. Các ngành này có thể phản ứng tương đối nhanh khi đầu tư công được chính quyền TPHCM đẩy mạnh, dự án được tháo gỡ pháp lý, tín dụng được khơi thông, nhờ đó kích thích tổng cầu.
Nền tảng quyết định tăng trưởng dài hạn phải là công nghiệp công nghệ cao và các dịch vụ có hàm lượng tri thức lớn như tài chính quốc tế, công nghệ số, R&D, thiết kế, y tế, giáo dục, dịch vụ chuyên môn... Đây là những lĩnh vực có khả năng nâng cao năng suất, tạo việc làm thu nhập cao, giúp thành phố tham gia sâu hơn vào các khâu có giá trị gia tăng lớn.

Dư địa bứt phá của TPHCM phụ thuộc vào khả năng hình thành các chuỗi giá trị liên ngành dựa trên lợi thế không gian kinh tế mới sau sáp nhập và hiệu quả liên kết vùng. Cụ thể là các chuỗi liên kết công nghiệp - công nghệ - dịch vụ sản xuất. Sau hợp nhất, thành phố có cơ hội chuyển dịch từ các ngành gia công lắp ráp sang nghiên cứu, thiết kế, chế tạo thiết bị, phát triển phần mềm công nghiệp, tự động hóa, cung cấp dịch vụ kỹ thuật sau bán hàng.
Đây là những mắt xích nằm ở nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị theo mô hình đường cong nụ cường (smiling curve). Giá trị gia tăng, đặc biệt là phần lớn nhất không phải trong khâu sản xuất, nhà máy sản xuất, mà là ở các khâu trước và sau sản xuất.
Chuỗi cảng biển - logistics - thương mại quốc tế - tài chính. Cái Mép - Thị Vải có lợi thế cảng nước sâu và đã hình thành các tuyến vận tải trực tiếp đến châu Âu, châu Mỹ. Bình Dương là vùng phát sinh lượng hàng công nghiệp lớn, trong khi khu vực trung tâm của TPHCM cũ tập trung các ngân hàng, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư lớn... Sau hợp nhất, nếu thành phố tích hợp các lợi thế này thành một hệ sinh thái hoàn chỉnh, có thể giữ lại phần giá trị gia tăng từ các khâu khác như phân phối, quản trị chuỗi cung ứng, tài chính thương mại, bảo hiểm hàng hải, kiểm định, trọng tài thương mại và các nền tảng logistics số khác.

Chuỗi đô thị - tiêu dùng - du lịch - kinh tế biển. Dư địa quan trọng nhất chính là nâng cao giá trị thu được từ mỗi lượt khách. Điều đó đòi hỏi phải kéo dài thời gian lưu trú của du khách, gia tăng chi tiêu cho mua sắm, giải trí, y tế, văn hóa... Nếu lượng khách tăng nhưng thời gian lưu trú ngắn và mức chi tiêu thấp, đóng góp vào GRDP vẫn rất hạn chế. Đây là bài toán mà ngành du lịch thành phố phải giải bằng được.
Về kinh tế số và đổi mới sáng tạo: Lợi thế kinh tế số của TPHCM nằm ở việc số hóa những ngành đã có quy mô rất lớn như sản xuất công nghiệp, cảng biển, logistics, tài chính, y tế… Hãy thử tính toán, chỉ cần năng suất của các khu vực này được cải thiện vài phần trăm, là phần giá trị gia tăng tạo thêm có thể lớn hơn đáng kể so với việc chỉ hình thành một số dự án công nghệ độc lập. Bản chất của kinh tế số phải là một phương thức nâng cao năng suất của toàn bộ nền kinh tế chứ không chỉ là thêm vài doanh nghiệp phần mềm được thành lập.


TPHCM cần tập trung vào bốn ưu tiên.
Trước hết là xây dựng hạ tầng kết nối giữa các cực tăng trưởng. Điểm nghẽn của thành phố không phải là thiếu cảng biển, khu công nghiệp hay trung tâm dịch vụ mà là các cấu phần này chưa được kết nối thành một hệ sinh thái hoàn chỉnh, có chi phí thấp. Sau sáp nhập, phải quyết tâm giải quyết nút thắt này càng sớm càng tốt.
Thứ hai là khơi thông các dự án và sử dụng đầu tư công như là vốn mồi. Chính quyền TPHCM đã hoàn thành xử lý hoặc xác định hướng xử lý đối với 838 dự án, với tổng vốn hơn 206.000 tỷ đồng. Việc đưa các dự án đủ điều kiện trở lại hoạt động có thể đồng thời tạo cầu cho các ngành xây dựng, vật liệu, tài chính, thu hút lao động, tăng thu nhập và tiêu dùng xã hội. Tuy nhiên, cần ưu tiên những dự án tạo thêm năng lực sản xuất, khả năng kết nối và tăng năng suất chứ không phải tăng giá đất hoặc phát triển các dự án bất động sản tư nhân.

Thứ ba là nâng cấp nền công nghiệp hiện hữu và thực chất chứ không phải tiếp tục xin mở thêm khu công nghiệp mới. Quỹ đất công nghiệp ngày càng khan hiếm và có giá trị cao, do đó phải được phân bổ cho những ngành có năng suất, giá trị gia tăng và mức độ liên kết nội địa lớn. TPHCM cần chuyển đổi các khu công nghiệp cũ theo hướng sinh thái và công nghệ cao, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của khu vực FDI, phát triển công nghiệp hỗ trợ, thiết kế, khuôn mẫu, thiết bị tự động hóa, vật liệu mới…
Cuối cùng là phát triển các dịch vụ cao cấp gắn trực tiếp với nền sản xuất và thương mại của toàn vùng Đông Nam Bộ. Trung tâm tài chính quốc tế phải giải quyết được bài toàn huy động vốn cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và TPHCM nói riêng. Tương tự, các trường đại học và tổ chức khoa học công nghệ phải gắn với nhu cầu đổi mới của doanh nghiệp...

Nếu GRDP sáu tháng đầu năm tăng 8,55%, để cả năm đạt trên 10%, tăng trưởng trong sáu tháng cuối năm phải đạt khoảng 11,5%. TPHCM đã xây dựng kịch bản quý III tăng khoảng 11% và quý IV ít nhất 11,8%. Còn nếu đặt mục tiêu tăng trưởng 11% cho cả năm, GRDP sáu tháng cuối năm có thể phải tăng khoảng 13,5%, tôi cho là rất thách thức, thậm chí không thể khả thi.
Mục tiêu này rõ ràng là yêu cầu rất cao, vượt quá nền tảng và sức tải của thành phố, không thể đạt được chỉ bằng một chính sách hoặc một biện pháp kích cầu đơn lẻ được. Nếu muốn tăng trưởng, TPHCM cần tạo ra sự tăng tốc đồng thời cả phía cung lẫn phía cầu, cả ở đầu tư, tiêu dùng, du lịch, công nghiệp...
Đầu tư công là động lực trực tiếp và có khả năng dẫn dắt lớn nhất.
Năm 2026, thành phố được giao khoảng 147.600 tỷ đồng vốn đầu tư công. Đến hết tháng 6, giải ngân đạt hơn 51.600 tỷ đồng, tương đương khoảng 35%. Như vậy, gần 96.000 tỷ đồng còn lại phải được triển khai trong nửa cuối năm. Tuy nhiên, tác động của đầu tư công không phải là việc đưa tiền ra nền kinh tế bằng mọi giá, tức là tăng tốc giải ngân. Hiệu quả tăng trưởng sẽ phụ thuộc vào tiến độ thi công thực tế, tỷ lệ GTGT tạo ra tại địa phương, khả năng kéo theo đầu tư tư nhân.

Các dự án giao thông, metro, đường vành đai, cảng biển, dự án chống ngập, chỉnh trang đô thị… có tác động lan tỏa lớn hơn vì vừa tạo cầu trước mắt (nhất là các ngành xây dựng, vật liệu), vừa giúp giảm chi phí vận tải và mở rộng không gian phát triển trong trung hạn. Ngược lại, nếu giải ngân chỉ tập trung vào tạm ứng, mua sắm tài sản, còn các dự án vẫn chậm hoàn thành thì tác động đến tăng trưởng GRDP trong năm nay sẽ rất hạn chế.
Tiêu dùng và du lịch là động lực có khả năng tác động nhanh nhất.
6 tháng đầu năm, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt khoảng 967.500 tỷ đồng, tăng 13,2%, doanh thu du lịch đạt gần 214.000 tỷ đồng, khách quốc tế đạt khoảng 6,39 triệu lượt. Đây là nhóm ngành có thể tạo tác động tương đối nhanh trong 6 tháng cuối năm, nhất là khi mùa du lịch, lễ hội, mua sắm cuối năm, cùng với các hoạt động hội nghị, sự kiện gia tăng.
Tuy nhiên, mấu chốt là phải tăng được mức chi tiêu thực tế của du khách. Cần có thêm nhiều hoạt động cho du khách trải nghiệm và chi tiêu, như phát triển kinh tế đêm, tổ chức các hoạt động khuyến mại mua sắm, giải trí, ẩm thực, chăm sóc sức khỏe, đăng cai các sự kiện quốc tế, tổ chức các sự kiện du lịch biển…

Công nghiệp và xuất khẩu phải đóng góp tích cực vào phần tăng trưởng còn lại. Để đạt tăng trưởng hai con số, công nghiệp chế biến chế tạo cần duy trì tốc độ khoảng 12-14%, các dịch vụ thị trường lớn phải tăng trên 10%, vốn đầu tư thực hiện cần tăng khoảng 15% hoặc cao hơn.
Quan trọng hơn, các động lực này phải bổ trợ lẫn nhau. Đầu tư công tạo cầu cho công nghiệp và xây dựng tại địa phương, cơ sở hạ tầng tốt hơn giảm được chi phí vận tải thực sự chứ không phải trên giấy, thủ tục phải thực sự thuận lợi hơn cho DN xuất khẩu, việc làm ổn định, thu nhập có được sẽ lại thúc đẩy tiêu dùng, đó là hiệu ứng số nhân cần phát huy.
GRDP đo lường giá trị gia tăng chứ không phải tổng vốn giải ngân hay tổng doanh thu, cũng không thể tích kiểu cộng gộp mà nó là tác động cộng hưởng, có liên kết ngành chặt chẽ.














