Tăng trưởng 2 con số tỉnh, thành: Những "ngôi sao" mới bứt tốc
(Dân trí) - Tăng trưởng không còn là cam kết chung chung mà trở thành KPI có địa chỉ, có thời hạn, nhiều địa phương đã bất ngờ bứt tốc. Nhưng mục tiêu tăng trưởng 2 con số vẫn phải trông chờ vào các "đầu tàu".
Lời tòa soạn:
Lần đầu tiên, Chính phủ giao đồng bộ 32 chỉ tiêu kinh tế - xã hội và môi trường cho từng địa phương, gắn với cả năm 2026 và giai đoạn 2026-2030. Bức tranh tăng trưởng nửa đầu năm, vì thế là những chuyển động của một cơ chế điều hành mới. Tuyến bài "Tăng trưởng 2 con số tỉnh, thành" của báo Dân trí nhìn lại quá trình thực hiện mục tiêu tăng trưởng tại các địa phương, nhận diện những động lực mới và đưa ra góc nhìn về giải pháp góp phần để các tỉnh, thành đạt và vượt mục tiêu trong năm nay.
Trong xưởng đóng gói của Nhà máy Sản xuất Pin VinES ở Khu kinh tế Vũng Áng (Hà Tĩnh), những cánh tay robot chuyền các pack pin qua từng công đoạn gần như không nghỉ. Hơn 80% quy trình tại đây đã được tự động hóa; gần 1.000 kỹ sư, công nhân làm việc theo ca để giữ dây chuyền chạy liên tục, cho ra hơn 230.000 pack pin mỗi năm.
Cùng nằm trong Khu kinh tế Vũng Áng, Nhà máy Sản xuất ô tô điện VinFast đã đi vào vận hành, tập trung sản xuất một số dòng xe điện đô thị.
Nhịp lao động khẩn trương trong hai nhà máy ấy không chỉ là chuyện riêng của một khu kinh tế. Đó là hình ảnh thu nhỏ của Hà Tĩnh, địa phương đang dẫn đầu tăng trưởng GRDP của cả nước.
Câu chuyện tăng trưởng 6 tháng đầu năm - nhìn ở cấp độ địa phương - gắn liền với một cột mốc trong tư duy điều hành. Nếu như đầu năm 2025, với Nghị quyết 25/NQ-CP, Chính phủ lần đầu giao mục tiêu tăng trưởng GRDP cho từng tỉnh, thành, thì Nghị quyết 169/NQ-CP ban hành ngày 27/6 năm nay cụ thể hơn và tầm nhìn xa hơn: mỗi địa phương trong 34 tỉnh, thành phố nhận về một bộ 32 chỉ tiêu kinh tế - xã hội - môi trường, gắn với cả năm 2026 lẫn giai đoạn 5 năm 2026-2030.
Tăng trưởng không còn là cam kết chung chung, mà trở thành KPI (bộ chỉ số đánh giá hiệu quả) có địa chỉ, có thời hạn. Và sau 6 tháng, những cái tên đứng đầu bảng xếp hạng không phải các đầu tàu quen thuộc: Hà Tĩnh giữ vị trí số 1 cả nước với mức tăng 12,79%; Ninh Bình, Hải Phòng cũng tạo dấu ấn mạnh mẽ.

Một khu vực lấn biển của Hải Phòng (Ảnh: Nguyễn Dương).
Theo Nghị quyết 169, có tới 32/34 địa phương được giao mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030; chỉ riêng Sơn La (8-8,5%) và Đồng Tháp (từ 9% trở lên) nằm dưới ngưỡng này.
Đáng chú ý, địa phương được giao mục tiêu cao nhất đến năm 2030 không phải Hà Nội (11%/năm) hay TPHCM (10,25%/năm), mà là Hải Phòng - từ 13%, phấn đấu 14%/năm.
Cơ chế giám sát đi kèm cũng được thiết kế chặt hơn: các địa phương phải báo cáo đánh giá và cập nhật kịch bản tăng trưởng gửi Bộ Tài chính trước ngày 25 của tháng cuối mỗi quý. Tiếp đến, Nghị quyết 180 về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 và hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương, yêu cầu được nâng thêm một nấc: những địa phương tăng trưởng thấp hơn kịch bản phải nhanh chóng xác định nguyên nhân và có giải pháp cụ thể, không dừng lại ở việc báo cáo khó khăn.
Nhóm dẫn đầu bứt tốc

Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), GDP quý II ước tăng 8,39% so với cùng kỳ năm 2025 - mức tăng của quý II cao nhất kể từ năm 2011. Tính chung 6 tháng, tăng trưởng đạt 8,18%, trong đó 9/34 địa phương đạt mức tăng hai con số. Đây là tín hiệu tích cực, nhưng áp lực phía trước không nhỏ: Nghị quyết 180 chỉ rõ, để cả năm đạt mục tiêu tối thiểu 10%, tăng trưởng nửa cuối năm phải đạt bình quân khoảng 11,7%.
Trong nhóm dẫn đầu, Hà Tĩnh là cái tên đáng chú ý nhất. Ngay từ quý I, tỉnh này đã vươn lên đứng đầu cả nước với mức tăng 12,42%, và sau 6 tháng tiếp tục giữ vững ngôi đầu với 12,79%. Động lực tăng trưởng đã chuyển dịch rõ nét: công nghiệp vẫn là trụ cột, nhưng không còn phụ thuộc vào luyện kim mà mở rộng sang năng lượng, sản xuất pin, xe điện và công nghiệp hỗ trợ.
Riêng khu vực công nghiệp tăng tới 28,34%, đóng góp khoảng 8,5 điểm % vào tăng trưởng chung của tỉnh; chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 32,83% so với cùng kỳ. Lực đẩy quan trọng đến từ Khu kinh tế Vũng Áng, nơi Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II vừa hoàn thành phát điện toàn bộ: tổ máy số 1 vận hành thương mại từ tháng 7/2025, tổ máy số 2 nối tiếp từ đầu tháng 4 năm nay.
Phát biểu tại hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương ngày 4/7, Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh Phan Thiên Định cho biết song song với sản xuất, tỉnh tập trung xử lý dứt điểm các điểm nghẽn đầu tư: đã hoàn thành xử lý 248/298 dự án vướng mắc về nguồn vốn ngân sách, 15/15 dự án tồn đọng chậm tiến độ; đặc biệt, chấm dứt hoạt động dự án khai thác và tuyển quặng sắt Thạch Khê sau hơn 15 năm vướng mắc, tạo cơ sở để báo cáo Trung ương quyết định phương án phát huy giá trị mỏ sắt này. Tỉ lệ giải ngân vốn đầu tư công của tỉnh đạt 56,9% kế hoạch Thủ tướng giao.

Bên trong Nhà máy sản xuất ô tô điện VinFast tại Khu kinh tế Vũng Áng, Hà Tĩnh (Ảnh: Dương Nguyễn)
Lãnh đạo Hà Tĩnh cũng nêu rõ những vấn đề cần khắc phục: quy mô kinh tế tỉnh mới chiếm 0,97% cả nước; tăng trưởng còn phụ thuộc nhiều vào một số doanh nghiệp, dự án lớn; khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chưa thực sự là động lực đột phá. Nửa cuối năm, tỉnh xác định đẩy nhanh hạ tầng khu công nghiệp, triển khai các dự án năng lượng theo Quy hoạch điện VIII, phát triển công nghiệp thép, cơ khí chế tạo, đóng tàu tại Vũng Áng, đồng thời kết nối Vũng Áng với cửa khẩu Cầu Treo để khai thác hành lang kinh tế Đông - Tây và lợi thế cảng nước sâu.
Xếp sau là Ninh Bình với mức tăng 11,44%, vượt kịch bản 6 tháng tỉnh tự đặt ra (11,38%) và đang chạy nhanh hơn mục tiêu cả năm 11% được giao tại Nghị quyết 169. Điểm đáng chú ý là mô hình tăng trưởng "hai chân": công nghiệp tăng mạnh với chỉ số sản xuất công nghiệp đạt 27,26%, trong khi du lịch tiếp tục là mũi nhọn với 17,6 triệu lượt khách trong 6 tháng, tăng 23,3%.
Hải Phòng - địa phương được giao mục tiêu tăng trưởng cao nhất đến 2030 - đạt 11,33%, mức cao nhất trong 5 năm và dẫn đầu nhóm thành phố trực thuộc Trung ương. Tuy nhiên, con số này vẫn thấp hơn mục tiêu 13% mà Chính phủ giao cho thành phố trong năm nay tại Nghị quyết 169, phản ánh áp lực trong thời gian còn lại của năm.

Bức tranh tăng trưởng cho thấy sự phân hóa rõ giữa các địa phương. Sau 6 tháng, những cái tên đứng đầu bảng xếp hạng không phải các đầu tàu quen thuộc (Ảnh: Văn Sơn).
Ở nhóm giữa của “tốp 9”, Quảng Ninh, Bắc Ninh và Hưng Yên có điểm chung là tăng trưởng thực tế cao hơn đáng kể so với dự báo trước đó. Quảng Ninh vươn lên 11,11% nhờ khu vực dịch vụ tăng mạnh; Hưng Yên đạt 10,72%; Bắc Ninh đạt 10,56%, tiếp tục duy trì vai trò trung tâm sản xuất điện tử.
Bất ngờ lớn nằm ở nhóm Phú Thọ, Tây Ninh và Thái Nguyên: từ vị trí ngoài nhóm hai con số trong quý I, đến hết 6 tháng cả ba đều góp mặt; riêng Phú Thọ đạt 10,18%, với chỉ số sản xuất công nghiệp tăng tới 25,1% - một trong những mức cao nhất cả nước. Điểm chung của cả nhóm là năng lực sản xuất mới được bổ sung đúng thời điểm tại các khu công nghiệp lớn, thành quả của những dòng vốn đã gieo từ nhiều năm trước, nay chín đúng lúc cơ chế KPI bắt đầu vận hành.
Trong khi đó, Hà Nội tăng 8,22%, mức cao nhất một thập kỷ của Thủ đô, nhưng còn cách xa mục tiêu 11% được giao; TPHCM cũng chưa chạm ngưỡng 9%, so với mục tiêu 10,2%.
Thực tế, nhóm 9 địa phương dẫn đầu chỉ đóng góp gần 18,6% tổng GRDP cả nước, nghĩa là tăng trưởng 2 con số của cả nước không thể chỉ trông vào những "ngôi sao" mới. Theo ông Lê Trung Hiếu, Phó Giám đốc Sở Tài chính Hà Nội, nếu nhìn dưới góc độ đóng góp cho nền kinh tế quốc gia, tốc độ tăng trưởng mới chỉ là một nửa của câu chuyện. Yếu tố quyết định hơn là quy mô kinh tế của từng địa phương.
Trong ba địa phương dẫn đầu, Hải Phòng có ý nghĩa đặc biệt khi đóng góp khoảng 5,7% GDP cả nước, lớn gấp nhiều lần so với Hà Tĩnh, địa phương chỉ chiếm khoảng 0,9% quy mô nền kinh tế. Điều này đồng nghĩa với việc mỗi điểm phần trăm tăng trưởng của Hải Phòng tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế quốc gia lớn hơn đáng kể. Chính vì vậy, thành phố cảng tiếp tục được kỳ vọng là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng nhất và đang gánh chỉ tiêu tăng trưởng khoảng 13% trong 6 tháng cuối năm.
Trong khi đó, hai cực tăng trưởng lớn nhất cả nước vẫn là TPHCM và Hà Nội. Với quy mô kinh tế chiếm lần lượt khoảng 23,3% và 12,4% GDP, chỉ riêng hai địa phương này đã đóng góp hơn 35% tổng quy mô nền kinh tế Việt Nam.

Tốc độ tăng trưởng tại Hà Nội, TPHCM hay Hải Phòng sẽ tạo ra mức ảnh hưởng lớn hơn rất nhiều so với các địa phương có quy mô kinh tế nhỏ (Ảnh: Nam Anh).
Điều đó cũng có nghĩa rằng, dù nhiều địa phương đạt tốc độ tăng trưởng rất cao, mục tiêu tăng trưởng của cả nước vẫn phụ thuộc rất lớn vào kết quả của hai đầu tàu kinh tế. Chỉ cần Hà Nội hoặc TPHCM tăng trưởng thấp hơn kỳ vọng, tác động đến tăng trưởng GDP quốc gia sẽ lớn hơn rất nhiều so với việc một số địa phương quy mô nhỏ không đạt kế hoạch.
Nhìn từ góc độ điều hành vĩ mô, có thể thấy mục tiêu tăng trưởng 2 con số của Việt Nam không chỉ cần nhiều địa phương bứt phá, mà quan trọng hơn là các đầu tàu kinh tế phải duy trì được đà tăng trưởng cao và ổn định. Một mức tăng 10-12% ở Hà Nội, TPHCM hay Hải Phòng sẽ tạo ra giá trị tuyệt đối lớn hơn rất nhiều so với cùng mức tăng ở các địa phương có quy mô kinh tế nhỏ.
Vì vậy, bên cạnh việc khuyến khích các địa phương phát huy lợi thế riêng để tạo thêm các cực tăng trưởng mới, việc tháo gỡ các điểm nghẽn về đầu tư, hạ tầng, thị trường, giải ngân vốn, cải cách thủ tục hành chính và thúc đẩy tiêu dùng tại các trung tâm kinh tế lớn vẫn là yếu tố mang tính quyết định đối với mục tiêu tăng trưởng của cả nước trong năm 2026.
Bức tranh tăng trưởng 6 tháng đầu năm vì thế cho thấy một thông điệp rõ ràng: không chỉ cần tăng trưởng nhanh, mà cần tăng trưởng nhanh ở những nơi có quy mô kinh tế lớn. Chính các đầu tàu kinh tế sẽ là lực kéo quan trọng nhất để đưa nền kinh tế Việt Nam hoàn thành mục tiêu tăng trưởng trong năm 2026.
Áp lực KPI
6 tháng đầu năm, cả nước ghi nhận 4 địa phương có tăng trưởng dưới 7%. Sơn La từ mức 9,76% trong quý I, thuộc nhóm cao của cả nước theo Phụ lục Nghị quyết 169, xuống còn 6,02% sau 6 tháng, chủ yếu do sản lượng thủy điện sụt giảm trong mùa khô. Các địa phương Đồng bằng sông Cửu Long như Vĩnh Long (6,41%), Cà Mau (6,6%) và Cần Thơ (6,7%) vẫn phụ thuộc lớn vào nông, lâm, thủy sản.
6 tháng cuối năm, vì thế, sẽ là giai đoạn bản lề với những địa phương chưa đạt mục tiêu Chính phủ giao.
Trao đổi với phóng viên Dân trí, Giáo sư David Dapice, học giả quốc tế thuộc Đại học Tufts và Trường Quản lý Nhà nước John F. Kennedy (Đại học Harvard, Mỹ), cho rằng bức tranh tăng trưởng 6 tháng của Việt Nam, với động lực chủ yếu từ FDI, đầu tư công và du lịch, trong khi sức cầu trong nước còn yếu, phù hợp với xu hướng ông quan sát được.

Giáo sư David Dapice nhìn nhận doanh nghiệp trong nước đóng vai trò quan trọng trong mục tiêu tăng trưởng hai con số (Ảnh: VGP).
Muốn hiện thực hóa mục tiêu hai con số, theo ông, Việt Nam cần tạo thêm dư địa phát triển cho khu vực doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, khu vực có khả năng giúp tăng trưởng lan tỏa rộng hơn về mặt địa lý thay vì tập trung ở một số địa phương thu hút FDI, đồng thời tạo thêm động lực cho việc làm, thu nhập và sức cầu trong nước.
"Hiện nay, các dự án hạ tầng quy mô lớn đang thu hút phần lớn nguồn vốn tín dụng, khiến doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp nhiều khó khăn hơn trong việc tiếp cận vốn để mở rộng sản xuất, đầu tư công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh", ông nhìn nhận. Điều này, theo Giáo sư Dapice, cũng làm giảm khả năng các doanh nghiệp nội địa tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của khu vực FDI và thay thế hàng nhập khẩu.
Đánh giá về cơ chế giao chỉ tiêu tăng trưởng cụ thể cho từng địa phương, TS Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam, cho rằng đây là bước đi đúng và cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Việc lượng hóa mục tiêu đến từng địa phương, từng sở, ngành, thậm chí đến cấp cơ sở đang tạo ra áp lực thực chất đối với hệ thống điều hành theo hai hướng: cá thể hóa trách nhiệm đi kèm phân cấp mạnh - địa phương chủ động quyết định và chịu trách nhiệm, thay cho cách điều hành tập trung trước đây; và hình thành cạnh tranh lành mạnh giữa các địa phương trong thu hút đầu tư, cải thiện môi trường kinh doanh, qua đó từng bước chuyển vai trò của chính quyền từ quản lý sang phục vụ.
Tuy nhiên, ông lưu ý tăng trưởng GRDP không nên là thước đo duy nhất. Trong bối cảnh áp lực chỉ tiêu gia tăng, nguy cơ chạy theo số lượng mà bỏ qua chất lượng là điều cần đề phòng. Do đó, hệ thống đánh giá địa phương cần được mở rộng, bổ sung các tiêu chí về môi trường đầu tư, chất lượng dịch vụ công và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp, nhằm phản ánh đầy đủ hơn chất lượng phát triển.
Thực tế cũng cho thấy, khi quy mô nền kinh tế đã lớn, việc duy trì tốc độ tăng trưởng cao không thể tiếp tục dựa vào các động lực cũ. Các địa phương buộc phải tìm kiếm những cực tăng trưởng mới - từ công nghiệp chế biến, năng lượng đến dịch vụ và hạ tầng. Câu chuyện của Hà Tĩnh, Ninh Bình hay Phú Thọ trong 6 tháng qua cho thấy điều đó là khả thi. Phép thử của 6 tháng tới nằm ở chỗ: bao nhiêu địa phương nữa làm được như vậy, và hai đầu tàu sẽ tăng tốc như thế nào.
(Còn tiếp)










