Đề án 1 triệu ha lúa: Sản xuất bền vững đã có, chuỗi liên kết vẫn bỏ ngỏ
(Dân trí) - Sau gần 2 năm, Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao tạo ra vùng sản xuất bền vững, nhưng khoảng trống trong liên kết chuỗi trở thành bài toán lớn thu hút doanh nghiệp, dòng vốn vào ngành lúa gạo.
Sáng 18/8, hội thảo “Thúc đẩy sản xuất, tiêu thụ theo chuỗi giá trị trong thực hiện đề án, thu hút nguồn vốn và doanh nghiệp đầu tư” được tổ chức tại TPHCM với chủ đề “Giải pháp công nghệ, cơ giới và vốn”.
Chi phí giảm, lợi nhuận nông dân tăng
Ông Nguyễn Tiến Định, Trưởng phòng Kinh tế hợp tác và Trang trại, Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) thông tin, nếu giai đoạn trước đây, Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao tập trung vào phát triển diện tích, áp dụng quy trình kỹ thuật và hình thành vùng sản xuất bền vững thì giai đoạn 2026-2030 sẽ phải chuyển sang tổ chức lại toàn bộ ngành hàng lúa gạo.
Sau gần 2 năm thực hiện, đến tháng 4/2026, vùng chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp đã đạt 942.357ha. Trong đó, 379.449ha áp dụng toàn bộ hoặc một phần quy trình canh tác bền vững.
Các mô hình này đã cho thấy những kết quả đáng chú ý. Lượng giống gieo sạ, phân bón hóa học, nước tưới đều giảm mạnh; năng suất tăng 5-12%, lợi nhuận tăng 1,5-9,3 triệu đồng/ha/vụ. Đáng chú ý, lượng phát thải giảm khoảng 3-4 tấn CO2e/ha/vụ. Việc chuyển đổi phương thức canh tác đã tạo ra tác động rõ rệt.
Tuy nhiên, khi bước sang giai đoạn tiếp theo, một khoảng cách lớn giữa sản xuất và thị trường đang dần lộ rõ. Cụ thể, trong số 379.449ha đã áp dụng toàn bộ hoặc một phần quy trình canh tác bền vững, diện tích tham gia các mô hình liên kết mới chỉ khoảng 10.300ha. Thống kê tới vụ Đông Xuân 2025-2026, toàn vùng có hơn 200 mô hình liên kết, song quy mô vẫn còn khiêm tốn so với tổng diện tích đang sản xuất theo quy trình bền vững.

Theo các chuyên gia, mục tiêu cuối cùng của Đề án 1 triệu ha lúa vẫn phải là tăng lợi nhuận cho người nông dân (Ảnh: Nam Bình).
Theo ông Định, đây là khoảng cách lớn nhất mà Đề án 1 triệu ha lúa phải giải quyết trong giai đoạn 2026-2030.
“Có diện tích chưa đồng nghĩa với việc hình thành vùng nguyên liệu. Có vùng sản xuất cũng chưa có nghĩa đã xây dựng được chuỗi giá trị”, ông Định nói.
Vì sao đã có vùng sản xuất nhưng vẫn khó hút vốn?
Cũng theo ông Nguyễn Tiến Định, điểm nghẽn hiện nay không đơn thuần là thiếu vốn. Vấn đề cốt lõi là nhiều chuỗi liên kết chưa đủ điều kiện để hấp thụ nguồn vốn đầu tư. Các điểm nghẽn như năng lực quản trị của HTX và doanh nghiệp còn hạn chế; các hợp đồng liên kết chủ yếu mang tính ngắn hạn; giá trị của gạo chất lượng cao, phát thải thấp chưa được thị trường ghi nhận tương xứng; dữ liệu về vùng nguyên liệu, hợp đồng và dòng tiền chưa được kết nối đầy đủ…
Do đó, cách tiếp cận về vùng nguyên liệu cũng cần thay đổi. Theo ông Định, một vùng nguyên liệu trong giai đoạn mới không thể chỉ được xác định bằng diện tích sản xuất.
Muốn thu hút doanh nghiệp và nguồn vốn, vùng nguyên liệu phải có ranh giới rõ ràng, HTX hoặc tổ chức đại diện cho nông dân, dữ liệu về hộ sản xuất và sản lượng, doanh nghiệp tham gia, hợp đồng liên kết, quy trình sản xuất, hạ tầng và phương án tài chính…

Nông dân thu hoạch lúa tại vùng An Giang (Ảnh: Nam Bình).
Ông Cao Thanh Bình, chuyên gia cao cấp ngân hàng thế giới, cũng cho rằng, mục tiêu cuối cùng của Đề án 1 triệu ha lúa vẫn phải là tăng lợi nhuận cho người nông dân.
Theo ông Bình, nếu chỉ sản xuất lúa, nông dân có thể thu về khoảng 60 triệu đồng/ha. Trong khi đó, nếu tận dụng phụ phẩm để trồng nấm, sản xuất phân bón và phát triển kinh tế tuần hoàn, lợi nhuận có thể tăng lên hơn 100 triệu đồng/ha. Trong bối cảnh này, nguồn vốn từ các tổ chức tài chính quốc tế sẽ là cơ hội để doanh nghiệp tiếp cận công nghệ, tham gia vào những thị trường có tiêu chuẩn cao hơn.
Từ những kết quả bước đầu, Đề án 1 triệu ha lúa đang đứng trước yêu cầu mới là không chỉ tạo ra 1 triệu ha sản xuất theo quy trình bền vững mà phải hình thành những vùng nguyên liệu có thị trường, có HTX, doanh nghiệp, hợp đồng, dữ liệu, hạ tầng và dòng tiền.
“Nếu giai đoạn đầu là câu chuyện thay đổi cách người nông dân trồng lúa, giai đoạn 2026-2030 sẽ là bài toán thay đổi cách cả chuỗi ngành hàng tổ chức sản xuất, huy động vốn và đưa hạt gạo ra thị trường. Đích đến cuối cùng vẫn là nâng cao giá trị hạt gạo và thu nhập cho người trồng lúa”, ông Bình nhận định





