Chính thức ban hành nghị định về thuế tối thiểu toàn cầu
(Dân trí) - Nghị định về thuế tối thiểu toàn cầu được Chính phủ ban hành, có hiệu lực thi hành từ ngày 15/10 và áp dụng từ năm tài chính 2024.
Chính phủ ban hành Nghị định số 236 quy định chi tiết một số điều của Nghị quyết số 107/2023 ngày 29/11/2023 của Quốc hội về việc áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu (thuế tối thiểu toàn cầu).
Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 15/10/2025 và áp dụng từ năm tài chính 2024.
Đối tượng nộp thuế
Nghị định số 236 quy định người nộp thuế là đơn vị hợp thành của tập đoàn đa quốc gia có doanh thu năm trong báo cáo tài chính hợp nhất của công ty mẹ tối cao ít nhất 2 năm trong 4 năm liền kề trước năm tài chính xác định nghĩa vụ thuế tương đương 750 triệu euro (EUR) trở lên, không bao gồm các trường hợp loại trừ.
Trường hợp tập đoàn đa quốc gia mới thành lập có thời gian hoạt động ít hơn 4 năm trước năm tài chính xác định nghĩa vụ thuế nếu có ít nhất 2 năm có doanh thu năm trong báo cáo tài chính hợp nhất của công ty mẹ tối cao tương đương 750 triệu EUR trở lên thì đơn vị hợp thành của tập đoàn đa quốc gia đó là người nộp thuế.

Quang cảnh TPHCM về đêm (Ảnh: Nam Anh).
Các trường hợp được loại trừ, không phải nộp thuế
Nghị định nêu rõ các trường hợp được loại trừ, không phải là người nộp thuế.
Trước hết, các trường hợp đã được quy định tại Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 107/2023/QH15 (từ Điểm a đến e và Điểm g) được áp dụng theo đúng hướng dẫn trong các phụ lục và điều khoản liên quan của Nghị quyết.
Bên cạnh đó, những đơn vị có tỷ lệ sở hữu chi phối bởi các tổ chức được loại trừ cũng thuộc diện không phải nộp thuế. Cụ thể, đơn vị có ít nhất 95% giá trị do một hoặc nhiều đơn vị được loại trừ nắm giữ (trừ tổ chức dịch vụ hưu trí) và hoạt động chủ yếu để nắm giữ tài sản, đầu tư vốn hoặc thực hiện hoạt động phụ trợ cho các đơn vị này, sẽ được xem là đơn vị được loại trừ.
Trường hợp khác, đơn vị có từ 85% giá trị trở lên thuộc sở hữu của đơn vị được loại trừ và hầu hết thu nhập đến từ cổ tức hoặc lãi, lỗ trên vốn chủ sở hữu được loại trừ cũng không phải là người nộp thuế.
Việc xác định đơn vị được loại trừ được tính trên toàn bộ hoạt động, bao gồm cả các cơ sở thường trú. Nếu một đơn vị đáp ứng điều kiện loại trừ thì toàn bộ hoạt động của đơn vị đó, dù thực hiện ở bất kỳ đâu, cũng được miễn theo quy định.
Ngoài ra, nếu đơn vị là thành viên tập đoàn nhưng thuộc sở hữu của quỹ đầu tư hoặc tổ chức đầu tư bất động sản đủ điều kiện, thì vẫn được công nhận là đơn vị được loại trừ, ngay cả khi quỹ hoặc tổ chức này không phải là công ty mẹ tối cao.
Một trường hợp khác là các đơn vị phụ trợ do tổ chức phi lợi nhuận sở hữu toàn bộ giá trị. Những đơn vị này được coi là loại trừ nếu doanh thu hợp nhất của tập đoàn, sau khi loại trừ các khoản từ tổ chức phi lợi nhuận hoặc các đơn vị được loại trừ khác, chiếm dưới 25% tổng doanh thu và không vượt ngưỡng 750 triệu EUR.
Doanh thu của các đơn vị được loại trừ sẽ được tính vào doanh thu của tập đoàn khi xác định ngưỡng doanh thu hợp nhất.
Đáng chú ý, đơn vị hợp thành có thể chủ động lựa chọn từ bỏ quyền áp dụng quy định loại trừ này. Sự lựa chọn có hiệu lực trong thời hạn 5 năm và tuân thủ theo cơ chế quy định sẵn.
Nộp thuế, bù trừ và hoàn thuế
Nghị định quy định số thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định về thuế tối thiểu toàn cầu được nộp vào ngân sách trung ương.
Đơn vị hợp thành chịu trách nhiệm kê khai thực hiện nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định của pháp luật về quản lý thuế. Đơn vị hợp thành chịu trách nhiệm kê khai có trách nhiệm đối với khoản thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Nếu đơn vị hợp thành đã nộp số tiền thuế, tiền chậm nộp và tiền phạt liên quan đến thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo Quy định về thuế tối thiểu toàn cầu nhiều hơn mức phải nộp, thì khoản nộp thừa sẽ được xử lý theo ba cách: bù trừ với các khoản còn nợ, trừ vào nghĩa vụ nộp thuế của kỳ tiếp theo, hoặc hoàn trả khi đơn vị không còn nợ nghĩa vụ thuế, tiền chậm nộp và tiền phạt.
Trường hợp người nộp thuế đề nghị bù trừ số tiền đã nộp thừa với các khoản thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt còn nợ theo Quy định về thuế tối thiểu toàn cầu thì sẽ không bị tính tiền chậm nộp đối với phần được bù trừ, tính từ ngày phát sinh khoản nộp thừa đến ngày cơ quan thuế thực hiện bù trừ.
Trình tự, thủ tục bù trừ, hoàn thuế thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.