Tưởng đã xóa hết dấu vết AI, sinh viên bất ngờ khi bị phát hiện (Kỳ 2)

(Dân trí) - Trước những chiêu trò gian lận AI tinh vi của sinh viên, giảng viên đều có thể lần tìm ra dấu vết chỉ qua một vài "manh mối".

Giấu đầu kỹ nhưng lại để hở đuôi

Tưởng đã xóa hết dấu vết AI, sinh viên bất ngờ khi bị phát hiện (Kỳ 2) - 1

Giảng viên luôn có những cách để phát hiện mức độ sinh viên ứng dụng AI trong các bài tập, tiểu luận (Ảnh minh họa: The New Yorker)

Với một lĩnh vực đặc thù hơn là báo chí, ThS. Đào Hùng Cường, giảng viên ngành Báo chí, kể lại câu chuyện về một bài làm mang đậm dấu ấn AI của sinh viên.

“Với đề tài về các doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động. Sinh viên của tôi có viết bài báo với tiêu đề “Sóng Thần Hồi Phục - Hơn 72,9 Nghìn Doanh nghiệp “Tái Sinh”. Đọc tiêu đề này tạo cảm giác như đang nói về một vấn đề rất nghiêm trọng và tiêu đề còn viết hoa tất cả chữ cái đầu”, ThS. Cường kể lại.

Theo vị giảng viên, chính những dấu hiệu trên cùng việc bài viết chia thành quá nhiều đề mục nhỏ dù nội dung mỗi đoạn khá hạn chế đã khiến dấu vết AI trong bài làm càng rõ rệt hơn.

Đối với các giảng viên, dù sinh viên cố gắng che giấu AI đến đâu thì luôn có những sơ hở để phát hiện ra những manh mối của máy móc để lại. 

Do việc sử dụng công cụ phát hiện AI vốn còn nhiều tranh cãi về độ chính xác, nhiều giảng viên thường lựa chọn dựa vào kinh nghiệm giảng dạy, khả năng quan sát và những phương pháp riêng để nhận diện đâu là tư duy thật của sinh viên, đâu là sản phẩm được tạo ra bởi AI.

“Bên cạnh việc trích dẫn nguồn không có thật, những bài làm dùng AI quá nhiều vẫn thường để lộ dấu hiệu qua sự thiếu logic và thiếu nhất quán trong nội dung giữa các phần”, TS. Trịnh Khánh Vân, giảng viên ngành Thông tin - Thư viện khẳng định.

Cụ thể, nhiều bài tiểu luận, nghiên cứu tuy có câu chữ trau chuốt nhưng nội dung lại lan man, các luận điểm thiếu liên kết, không bám sát vấn đề đặt ra và không trả lời được câu hỏi nghiên cứu ban đầu. 

Đặc biệt, không ít sinh viên cũng né tránh phần phân tích hạn chế hoặc đề xuất giải pháp vì chưa thực sự hiểu bản chất vấn đề. Tất cả những dấu hiệu đó ngầm khẳng định sinh viên đang sử dụng AI.

Đối với ThS. Lê Đại Minh, giảng viên ngành Tâm lý học, với những sinh viên vốn chưa có nhiều kỹ năng viết học thuật nhưng bài làm lại đột nhiên sắc bén, mượt mà và trôi chảy bất thường, đây có thể là dấu hiệu cho thấy có sự hỗ trợ quá mức từ AI.

Vị giảng viên này cũng chú ý tới những tiểu tiết trong cách trình bày. Một số bài sử dụng dấu câu thiếu đồng nhất, chẳng hạn xen lẫn giữa dấu gạch ngang ngắn và dấu gạch ngang kéo dài (kiểu định dạng thường xuất hiện trong nội dung do ChatGPT tạo ra).

Ngoài ra, phần tài liệu tham khảo cũng là nơi mà ThS. Minh khẳng định dễ lộ dấu vết AI nhất.

Để xác định được sinh viên gian lận AI, ThS. Cường cũng đã rút ra bộ nhận diện AI trong quá trình chấm bài. Trong đó, các bài viết do AI tạo ra thường có xu hướng in đậm từ ngữ bất thường, các từ ngữ tiếng Việt có mở ngoặc tiếng Anh đi kèm, văn phong làm trầm trọng hóa vấn đề và các câu văn đều đều, thiếu dấu ấn cá nhân.

Cùng với các dấu hiệu trên là những khác thường trong dấu gạch ngang, dấu ngoặc kép, sử dụng nhiều từ ngữ như không chỉ - mà còn, cột mốc, bước tiến, mạnh mẽ, thêm vào đó, hơn thế nữa, vững chắc...

Thay đổi để bắt kịp làn sóng AI lan rộng

“Việc lạm dụng AI trong học tập có thể khiến sinh viên nảy sinh ảo tưởng về năng lực, làm ra kết quả nhưng không hiểu bản chất của vấn đề”, TS. Vân nhận định về hệ quả khi sinh viên lạm dụng AI.

ThS. Minh cũng khẳng định rằng sinh viên nếu phụ thuộc quá nhiều vào AI sẽ đánh mất năng lực tự học và tư duy độc lập. AI có thể hỗ trợ tìm kiếm, tổng hợp tài liệu hoặc diễn đạt nhưng nếu lạm dụng để làm thay toàn bộ quá trình học thì sinh viên sẽ thiếu khả năng phân tích, phản biện và giải quyết vấn đề thực tế. 

Về lâu dài, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực nghề nghiệp và tính trung thực học thuật.

Trước bối cảnh trên, những giảng viên đã có các nỗ lực ban đầu để giúp sinh viên buộc phải tư duy, dù có AI vẫn không thể làm hộ trọn vẹn.

TS Vân thường ra các đề bài yêu cầu sinh viên khảo sát thực tế. Người học sẽ phải trực tiếp đi thu thập dữ liệu, chụp ảnh minh chứng, thuyết trình kết quả phân tích và trả lời phản biện từ giảng viên.

Tưởng đã xóa hết dấu vết AI, sinh viên bất ngờ khi bị phát hiện (Kỳ 2) - 2

Để bắt kịp làn sóng AI, nhiều giảng viên đã thay đổi cơ chế đánh giá, giao đề bài để buộc sinh viên phải tư duy (Ảnh minh họa: RMIT)

Cách làm này khiến AI chỉ có thể hỗ trợ tìm tài liệu hoặc xây dựng cơ sở lý luận còn phần thực địa và phân tích thực tế buộc sinh viên phải tự thực hiện.

Đối với ThS. Minh, vị giảng viên này tăng cường các hoạt động thảo luận, thuyết trình, vấn đáp ngắn trên lớp và yêu cầu sinh viên giải thích kết quả bài làm của mình.

Ví dụ, khi đặt vấn đề “trình bày khái niệm lo âu học tập”, ThS. Minh yêu cầu sinh viên quan sát một tình huống thực tế trong môi trường học tập, phân tích nguyên nhân dưới góc nhìn tâm lý học, sau đó đề xuất hướng can thiệp phù hợp với bối cảnh cụ thể.

ThS. Cường đưa ra chia sẻ về giải pháp hạn chế gian lận AI: “Tôi áp dụng quy định rằng nếu phát hiện sinh viên lạm dụng AI, bài làm sẽ bị trừ 20% số điểm. Đồng thời tôi chuyển sang giao dạng bài tập dự án nhiều hơn”.

Trong các bài tập, ThS. Cường cũng yêu cầu sinh viên phải ghi chép toàn bộ quá trình làm việc, từ cách tìm kiếm dữ liệu, xử lý thông tin cho đến quá trình xây dựng sản phẩm cuối cùng nhằm đảm bảo người học thực sự tham gia vào quá trình tư duy và thực hành, hạn chế sao chép kết quả do AI tạo ra.

Theo TS. Nguyễn Gia Hy, chuyên gia trong lĩnh vực AI, trong bối cảnh AI đang tham gia vào gần như mọi lĩnh vực, sinh viên không nên đứng ngoài xu hướng nhưng cũng không được phụ thuộc hoàn toàn vào công nghệ này.

Tưởng đã xóa hết dấu vết AI, sinh viên bất ngờ khi bị phát hiện (Kỳ 2) - 3

Nếu giao toàn bộ quá trình làm bài từ lên ý tưởng đến viết bài hoàn chỉnh cho AI, sinh viên sẽ dễ rơi vào trạng thái phụ thuộc hoàn toàn vào công nghệ này (Ảnh minh họa: Shutterstock)

Chuyên gia cho rằng người học cần hiểu cơ chế hoạt động, điểm mạnh và hạn chế của AI để biết cách sử dụng phù hợp trong từng tình huống cụ thể.

“AI chỉ nên được dùng cho các tác vụ cơ bản như tìm kiếm, tổng hợp thông tin hay diễn đạt ý tưởng thành văn bản nhằm tăng năng suất học tập và nghiên cứu”,  TS. Nguyễn Gia Hy nhận định.

Chuyên gia khẳng định những giá trị cốt lõi như tư duy, sáng tạo hay khả năng phân tích vấn đề vẫn cần sự tham gia của sinh viên. Việc giao toàn bộ quá trình từ lên ý tưởng đến viết bài cho AI sẽ làm cho sản phẩm tạo ra sẽ thiếu dấu ấn cá nhân và dễ nhận về phản hồi tiêu cực từ giảng viên.

Hiện Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến cho dự thảo “Thông tư quy định ứng dụng công nghệ trong giáo dục đại học”. Trong đó, dự thảo cũng đặt ra yêu cầu chặt chẽ về liêm chính học thuật trong môi trường số. Việc ứng dụng công nghệ và AI phải bảo đảm trung thực, khách quan, tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ và phản ánh đúng năng lực người học.