Chủ nhật, 31/10/2010 - 05:13

Nguy cơ phụ nữ hóa nông nghiệp, lão hóa nông thôn

Thời chiến tranh, để cho chồng con yên tâm đánh giặc, chị em phụ nữ ở lại hậu phương vừa chiến đấu vừa sản xuất. Ngày nay, khi diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp, nhu cầu sinh hoạt đòi hỏi ngày càng cao, trong khi thu nhập từ nông nghiệp quá thấp...

Không ít trai làng bỏ quê ra thành phố kiếm tiền, để lại ruộng đồng cho phụ nữ và nông thôn đang ngày bị lão hoá.

Phụ nữ hoá nông nghiệp

Hiện nay hầu hết việc đồng áng đều do chị em phụ nữ đảm nhiệm, từ việc cày bừa gieo trỉa đến thu hoạch gặt đập. Ở các thôn quê bây giờ người ta thấy chỉ có ngày lễ, tết mới xuất hiện nhiều bóng đàn ông. Bởi do mưu sinh của cuộc sống, trong khi thu nhập từ nông nghiệp rất thấp, nhu cầu sinh hoạt ở nông thôn bây giờ cũng đòi hỏi cao không khác thành thị.

Từ ăn ở, đi lại đến học hành và sinh hoạt văn hoá tinh thần của con cái. Nếu cứ nhìn vào hạt thóc, củ khoai, con lợn, con gà thì không bao giờ đáp ứng được, bắt buộc cánh đàn ông, người chủ gia đình, có sức dài, vai rộng phải tính toán. Không còn con đường nào khác buộc họ phải ra thành phố kiếm việc làm.
Nguy cơ phụ nữ hóa nông nghiệp, lão hóa nông thôn  - 1
Gánh vác ruộng đồng thời nay dường như đang đè nặng lên đôi vai người phụ nữ (Ảnh: Nguyễn Duy)
 
Họ ra phố làm đủ việc từ thợ hồ, gánh vác thuê, đi xe lai hoặc làm bất cứ việc gì miễn sao có thêm thu nhập.
 
Trên chuyến về công tác tại Hà Nội, ngồi trên xe lai của một người trung niên quê Thanh Chương (Nghệ An), anh lái xe tâm sự: Thú thực với bác, bọn tôi ở quê bây giờ đất chật người đông, ruộng đất bị thu hẹp, tính ra mỗi khẩu được chia vài trăm mét vuông ruộng, sản phẩm nông nghiệp thời nay rẻ lắm, mỗi sào ruộng sau 6 tháng thu hoạch về trừ giống, phân bón đầu tư, trừ thuế má và các khoản phải đóng nộp, số còn lại chưa nổi 100.000 đồng.

Bác coi số tiền ấy chia cho tiền công 6 tháng, nếu không ra phố tìm việc, lấy đâu nuôi vợ, nuôi con học hành. Biết rằng ra đây làm thêm để lại cho vợ ở quê gánh vác trăm bề vất vả, nhưng không còn cách nào khác được. Ra thành phố chỉ cần chịu khó mỗi ngày cũng kiếm được năm sáu chục ngàn đồng, hàng tháng trừ tiền ăn, tiền trọ gửi về cho vợ con triệu bạc, để trang trải sinh hoạt."

Bây giờ ở nông thôn ngoài đồng hầu hết chỉ có phụ nữ, thời chiến người ta thấy chị em cầm cày, bây giờ thời hậu chiến lại cầm cày vẫn là chị em. Ngoài ruộng vườn, việc chăn nuôi, bếp núc và cả việc chăm con, chăm bố mẹ một tay chị em phụ nữ. Việc đồng áng bây giờ không chỉ ở đồng bằng mà cả miền núi bây giờ cũng gần như phụ nữ và ông già bà lão đảm nhiệm.

Tại huyện Con Cuông (Nghệ An) bình quân hàng năm có không dưới 2.000 thanh niên mà hầu hết là nam giới đi vào Nam, ra Bắc tìm việc làm. Phải chăng do giá trị ngày công sản xuất nông nghiệp thấp, lực lượng lao động lại đa số là phụ nữ chân yếu tay mềm và bao nhiêu yếu tố khác tác động vào làm cho “nông nghiệp Việt Nam phát triển kém bền vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần.

Hàng hoá nông nghiệp có sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt tiềm năng, nguồn lực; Nông nghiệp Việt Nam chuyển dịch cơ cấu và đổi mới cách thức sản xuất còn chậm , phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ, phân tán; Năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng nhiều loại nông sản thấp..." Điều này đã được hội nghị TW7 (Khoá X) kết luận. Điều này chúng ta không có gì phải ngạc nhiên, bởi vì nông nghiệp Việt Nam bây giờ đã đang bị “Phụ nữ hoá”, thì làm sao phát triển mạnh lên được...?!

Đến nguy cơ lão hoá nông thôn

Ngày xưa ở nông thôn Việt Nam có nhiều thế hệ sống quây quần, nhiều gia đình có tứ đại, ngũ đại đồng đường. Bây giờ do miếng cơm manh áo, hầu hết trai trẻ đi phiêu bạt làm ăn, họa hoằn ngày mùa, ngày lễ, tết mới họp mặt đông đủ. Về nông thôn toàn thấy ông già bà lão và con trẻ. Nhiều địa phương bố mẹ đi làm ăn xa, để con ở nhà nhờ ông bà trông giữ.
Hàng năm bổ sung thêm không ít lực lượng về hưu ở các thành phố, thị xã, ở các cơ quan nhà nước nghỉ chế độ về quê sống thanh đạm, tránh ồn ào, chộp giật, chen lấn... càng làm cho nông thôn thêm lực lượng già nhiều thêm. Một bí thư Đoàn xã nói với tôi rằng bây giờ huy động thanh niên đến sinh hoạt khó lắm, bởi học xong họ đi học đại học, cao đẳng, số không thi đậu đi học nghề và bám lại thành phố.
 
Muốn sinh hoạt thanh niên hay huy động lực lượng thanh niên may ra dịp đầu hè còn dễ, bởi số học sinh vừa nghỉ học về nhà, còn thời gian khác có khi đốt đuốc cũng không tìm thấy thanh niên.
 
Khi trao đổi với chúng tôi các đồng chí lãnh đạo xã Thạch Ngàn (một xã thuộc vùng sâu, vùng xa của huyện Con Cuông) cho biết: "Trước đây do còn dễ làm ăn, việc khai thác lâm sản Nhà nước còn cho phép, lực lượng trai trẻ ở lại còn nhiều, nay Chính phủ đóng cửa rừng, việc khai thác lâm sản bị cấm; công tác quản lý bảo vệ và trồng rừng không hợp với thanh niên, việc sản xuất nông nghiệp bây giờ lớp trẻ không ưng, thành thử cứ học xong, lớn lên là thanh niên ra đi, để lại với bản làng toàn ông già bà lão. Bình quâm mỗi năm Thạch Ngàn có trên 200 thanh niên rời bản “Nam Tiến”. Trong khi tỷ lệ sinh toàn xã mỗi năm chỉ thêm 20-30 cháu. Không chỉ ở Thạch Ngàn mà hầu hết các xã ở Con Cuông, thanh niên cũng không mặn mà ở lại quê."

Khi trao đổi với các bạn đồng nghiệp làm Tuyên giáo ở các huyện trong tỉnh Nghệ An, họ đều có chung nhận xét rằng: "Nếu không kéo các nhà máy, xây dựng các cơ sở chế biến và không có chính sách ưu tiên phát triển nông nghiệp, không có chính sách giữ chân thanh niên, thì chỉ cần thời gian ngắn nữa, nông thôn Việt Nam chỉ còn toàn ông già bà lão mà thôi!?"

Việt Nam vốn đi lên từ nông nghiệp, người dân Việt Nam từ trước tới nay vốn gắn bó với làng quê, dân số Việt Nam trên 80% là nông dân. Để phát triển đất nước Công nghiệp hoá là chủ trương đúng, nhưng Công nghiệp hoá chỉ phát triển ở thành phố, đồng bằng thì sẽ tạo nên sự biến động dân cư lớn nhất là dân cư nông thôn; Công nghiệp hoá chỉ chú trọng đến ngành công nghiệp, mà để nông nghiệp bị phụ nữ hoá và nông thôn bị lão hoá là cần phải điều chỉnh. Bởi nông nghiệp là thế mạnh ngàn đời nay của chúng ta; Làng quê là hậu phương, là thành đồng, luỹ thép của cách mạng Việt Nam.

Phùng Văn Mùi