Đầu năm, nói chuyện văn hóa của người Việt ta

(Dân trí) - Hồi cuối năm 2004, tôi về Việt Nam thăm nhà, rồi vào Sài Gòn thăm vài người bạn. Đến nhà một người bạn già, cháu bé cháu của người bạn đứng ở cửa nhìn tôi lạ lẫm. Người bạn nhắc cháu “Con chào bác đi con”. Cháu bé chào tôi lí nhí.

Tôi chợt nhớ lại hồi cách đây hơn 20 năm, ngay sau khi ngày chiến tranh kết thúc, tôi từ Hà Nội vào Sài Gòn, và cũng đến thăm một người Sài Gòn. Cháu bé con ông chủ nhà cũng trạc tuổi cháu bé bây giờ, cũng đứng ở cửa cùng bố đón khách. Cháu bé đứng vòng tay trước bụng, cúi người chào tôi “Dạ, con chào chú”, người bố không phải nhắc.

 

Hơn 20 năm sau, tình hình đã khác. Cách chào khách của các cháu bé cũng đã khác. Bây giờ cháu bé phải có người nhắc, và khi chào cũng không khoanh vòng tay như trước nữa.

 

Chỉ từ một chi tiết nhỏ đó thôi, suy rộng ra, thấy văn hóa của người Việt Nam ta giờ đây thật khác xa trước kia.

 

Trước đây, cũng không lâu la gì, làm gì có chuyện “cơm tù”, hành khách bị nhà xe và nhà hàng “hành”, thậm chí bị đánh chết như đã từng xảy ra cách đây vài năm. Trước đây, cũng làm gì có chuyện các cửa hàng cửa hiệu chỏng lỏn với khách, thậm chí đánh chửi khách như hiện nay. Các nhân viên nhà nước trước đây cũng lịch sự với dân hơn hiện nay. Các chú công an trước đây được người dân trìu mến gọi là “chú”, thì nay thường bị gọi là “thằng”.

 

Người Việt Nam ta vốn là người nhân hậu, hiền lành, dễ gần, dễ làm quen. Cách xưng hô của người Việt Nam ta cũng rất đặc biệt. Cách xưng hô như “anh, em, chị, chú, bác, cô, ông, bà, con, cháu” vốn là cách xưng hô trong gia đình. Nhưng người Việt Nam ta dùng cách xưng hô đó để gọi nhau ngoài xã hội. Khi gọi nhau là anh, là chị, là em, là cô, là chú, là cháu, là conthì lập tức trở thành thân thiện ngay, như trong gia đình.

 

Thế nhưng giờ đây cách xưng hô đó cũng đã bị mai một đi nhiều. Người ta gọi nhau là “thằng, lão, con mụ, nó, mày tao”. Văn hóa “người Hà Nội thanh lịch” giờ đây tìm được cũng khó như “tìm sao giữa ban ngày”. Những câu nói lịch sự, lễ phép như “Dạ thưa, dạ vâng, dạ không, ạ, xin lỗi, cảm ơn” cũng trở nên hiếm đi trong ngôn từ hàng ngày của người Việt ta ngày nay. Những câu nói đùa ý nhị, kín đáo ngày xưa, thì nay cũng thường bị thay vào những câu nói đùa thô lỗ, tục tĩu.

 

Tháng 7 năm 1998, Hội nghị Trung ương 5 của Trung ương Đảng khóa 8 đã họp, quyết định về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Nhưng có lẽ Nghị quyết 5 đó quá chung chung, thiếu những hình thức cụ thể, nên Nghị quyết 5 đó chưa thực hiện được bao nhiêu. Văn hóa, đạo đức xã hội vẫn ngày càng xuống cấp.

 

Ông cha ta đã giữ gìn văn hóa như thế nào?

 

Vua Tự Đức năm 1857 cho làm bia nói về cụ trạng Bùng Phùng Khắc Khoan (1528-1613), ghi rõ các quan tỉnh, huyện của nhà Nguyễn ở tỉnh Sơn Tây (quê cụ trạng Bùng) khi đến làng Bùng đều phải “xuống xe, đến yết kiến mộ cụ và làm lễ tế yến”. Chỉ một việc làm đó thôi đủ để làm cho mọi người dân, mọi quan chức đều hiểu là phải kính trọng các bậc chí sĩ có công với nước, nhờ thế mà đạo đức, trật tự, lễ giáo xã hội được giữ vững, người dưới biết kính trọng người trên. Đó chính là nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Tôi mong ước giờ đây, nếu có vị quan chức nào đi qua mộ cụ Nguyễn Du ở Tiên Điền, Nghi Xuân (Hà Tĩnh) xuống xe, vào thắp hương mộ cụ, thì đó cũng sẽ là một nét văn hóa đẹp của người lãnh đạo. Người ta sẽ nhìn vào nghi lễ đó, để bảo ban nhau hãy sống có lễ nghĩa, có văn hóa. Chẳng có bài học giáo dục văn hóa nào có hiệu quả hơn.

 

Nói đến văn hóa, phải có hình thức cụ thể để biểu hiện, mà nghi lễ là một hình thức văn hóa quan trọng. Các nghị quyết của đảng không thấy nói đến các nghi lễ văn hóa.

Lễ tịch điền ông cha ta vẫn thực hiện cả ngàn năm nay, có tính văn hóa rất cao. Từ đời vua Lê Đại Hành (980-1005), đến đời Nguyễn năm 1945, hàng năm vào đầu xuân, nhà vua ra đồng cày ruộng, làm Lễ tịch điền, cầu cho được mùa. Lễ này xuất phát từ mê tín, nhưng dần trở thành một lễ nghi văn hóa, làm đầm ấm quan hệ vua-dân. Nước ta là nước có nền văn hóa lúa nước. Bởi vậy mà có lễ Tịch điền. Lễ Tịch điền này kéo dài gần 1000 năm. Từ năm 1945, lễ Tịch điền bị bỏ. Có nên khôi phục không?

 

Hãy thử hình dung xem, vào đầu xuân, các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước chia nhau đi 3 miền Bắc, Trung, Nam cùng nhân dân làm Lễ tịch điền, xắn quần, xuống ruộng cày mẫu vài đường, nói lời chúc một năm mới được mùa, nhân dân no ấm, hạnh phúc. Đẹp lắm chứ, thấm đẫm tình đảng-dân, tình lãnh đạo-dân lắm chứ. Đấy chính là văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.

 

Hay Lễ thề đền Đồng Cổ. Sử cũ chép rằng thời vua Lý Thái Tổ, khi vua băng hà, truyền ngôi cho thái tử Lý Phật Mã, tức là vua Lý Thái Tông. Nhưng 3 người em của thái tử đã muốn cướp ngôi của anh, đem quân nổi loạn. Đại tướng Lê Phụng Hiểu đã dẹp được loạn, bảo về được triều đình. Từ đó hàng năm, vua Lý Thái Tông tổ chức Hội thề Đồng Cổ, làm ở đền Đồng Cổ, trên đường Thụy Khê-Hà Nội hiện nay. Các quan đọc lời thề “Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, thần minh giết chết”. Từ đó hàng năm lấy ngày mồng 4 tháng 4 làm ngày Hội thề Đồng Cổ. Đến đời Trần, lời thề được sửa một chút: “Làm tôi tận trung, làm quan trong sạch, ai trái lời thề, thần minh giết chết”. Đó là một nét văn hóa rất đậm đà bản sắc dân tộc. Không phải là hủ tục.

 

Trong một kỳ họp quốc hội, nhà sử học Dương Trung Quốc có đề nghị làm lễ “Tuyên thệ” như các nước vẫn làm. Tổng thống khi nhậm chức, một tay để lên quyển Hiến pháp, một tay giơ cao, thề bảo vệ Hiến pháp và quốc gia. Đó là một nghi lễ rất quan trọng, rất văn hóa, để giữ gìn phẩm giá cho người lãnh đạo.

 

Ta có nên làm lễ “Tuyên thệ” đó không? Và để có tính truyền thống, nối tiếp cha ông, ta làm ở đền Đồng Cổ. Các vị lãnh đạo khi nhậm chức, đến đền Đồng Cổ làm Lễ thề, đọc lời thề ví dụ như: - “Làm quan trong sạch, không tham nhũng, tận trung với nước, lịch sự, lễ phép với dân, ai trái lời thề, thần minh giết chết”. Nếu được như thế thì hay biết mấy.

 

Trong những ngày giáp Tết Đinh Hợi 2007, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có cuộc đối thoại trực tuyến chưa từng có với dân. Đây là một tín hiệu rất đáng mừng cho năm mới. Một nét văn hóa mới, tôn trọng dân, gần dân, lắng nghe tiếng nói của nhân dân đã bắt đầu được hình thành trong lãnh đạo cao cấp nhất của đất nước. Hi vọng nét văn hóa “trực tiếp đối thoại với dân” sẽ được duy trì và phát triển hơn nữa, từ trung ương đến địa phương.

 

Minh Tuấn
(TTokyo)