Làm gì để tránh rắc rối thuế khi xuất cảnh?
Trước đây mỗi khi chuẩn bị “xuất ngoại” đi công tác nước ngoài, nỗi quan tâm lớn nhất đối với nhiều người trong đó có tôi trước tiên là xin Visa (thị thực) và sau đó là làm sao đổi được ít ngoại tệ để mua chút quà biếu người thân ở nhà.
Giờ đây, khi thủ tục Visa đã đơn giản cùng với thẻ tín dụng quốc tế khiến việc đổi ngoại tệ gần như không quá cần thiết, vấn đề mới lại phát sinh và ảnh hưởng đến khá nhiều người chuẩn bị “xuất ngoại” là nguy cơ tạm hoãn xuất cảnh do nợ thuế.
Thực ra quy định về tạm hoãn xuất cảnh liên quan đến thuế không hề mới, trước đây đã có quy định tại Nghị định 126/2020/NĐ-CP, có hiệu lực thi hành từ ngày 5/12/2020. Nghị định 126 sau đó được sửa đổi bởi Nghị định 49/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 28/2/2025.
Theo Điều 3, Nghị định 49, có 4 trường hợp tạm hoãn xuất cảnh liên quan đến thuế bao gồm:
Trường hợp 1: Cá nhân kinh doanh, chủ hộ kinh doanh bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế có số tiền thuế nợ từ 50 triệu đồng trở lên và số tiền thuế nợ đã quá thời hạn nộp theo quy định trên 120 ngày.
Trường hợp 2: Cá nhân là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế có số tiền thuế nợ từ 500 triệu đồng trở lên và số tiền thuế nợ đã quá thời hạn nộp theo quy định trên 120 ngày.
Trường hợp 3: Cá nhân kinh doanh, chủ hộ kinh doanh, cá nhân là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký có số tiền thuế nợ quá thời hạn nộp theo quy định và sau thời gian 30 ngày kể từ ngày cơ quan quản lý thuế thông báo về việc sẽ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh mà chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế.
Trường hợp 4: Người Việt Nam xuất cảnh để định cư ở nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài trước khi xuất cảnh từ Việt Nam có số tiền thuế nợ quá thời hạn nộp theo quy định mà chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế.

Hành khách ở sân bay Nội Bài (Ảnh: Hải Nam).
Trước khi đi sâu phân tích, cần khẳng định rằng thuế là quyền lợi và nghĩa vụ của công dân và mọi người đều có trách nhiệm tuân thủ quy định. Theo quan sát thực tế cũng như tham khảo các ý kiến góp ý trên các diễn đàn, không có nhiều ý kiến băn khoăn, vướng mắc đối với hai trường hợp 1 và 2 kể trên vì quy định khá rõ ràng, ngưỡng tiền nợ thuế theo Nghị định 49 cũng hợp lý, thời gian đủ dài để người nộp thuế kịp xử lý trước khi xuất cảnh.
Ý kiến hiện nay chủ yếu được tập trung vào trường hợp 3, khi cá nhân là chủ hộ kinh doanh hay đại diện pháp luật của doanh nghiệp bị hoãn xuất cảnh khi vướng vào trạng thái không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký và có số nợ thuế quá hạn chưa nộp, dù chỉ là vài đồng hay vài nghìn đồng.
Trước tiên, cần nhắc lại rằng doanh nghiệp, hộ kinh doanh, hợp tác xã nếu không hoạt động tại địa chỉ đăng ký (hay chúng tôi thường gọi tắt chung là “doanh nghiệp bỏ trốn”) họ đã bị phân loại thuộc nhóm các trường hợp có rủi ro cao về thuế.
Do vậy, khi các doanh nghiệp này có số tiền thuế quá hạn chưa được nộp trong vòng 30 ngày sau khi cơ quan quản lý thuế đã có thông báo thì việc áp dụng biện pháp cưỡng chế tạm hoãn xuất cảnh âu cũng là điều hợp lý, ít nhất là về mặt lý thuyết.
Vấn đề mà nhiều người nộp thuế gặp phải trong thực tế là doanh nghiệp đó thực ra vẫn hoạt động ở đúng địa chỉ theo đăng ký nhưng do mới thành lập hoặc có quy mô nhỏ nên họ không thường xuyên có mặt ở địa chỉ đó, dẫn đến rủi ro bị cơ quan chức năng kiểm tra ngẫu nhiên và bị xác định thuộc trường hợp không hoạt động tại địa chỉ đăng ký.
Khi những doanh nghiệp này thuê cá nhân bên ngoài sử dụng email cá nhân để làm thủ tục với cơ quan thuế, hoàn toàn có nguy cơ là các thông báo nợ thuế mà cơ quan thuế gửi vào hòm email cá nhân bị bỏ sót và không được xử lý kịp thời, dẫn đến tình trạng chủ hộ kinh doanh, đại diện doanh nghiệp bị cấm xuất cảnh nêu trên.
Theo thống kê của Bộ Tài chính, tại thời điểm tháng 3/2026, tổng số người nộp thuế (NNT) không hoạt động tại địa điểm đã đăng ký là 963.500 (325.500 doanh nghiệp và 638.000 hộ kinh doanh), trong đó 469.200 (38.200 doanh nghiệp và 458.000 hộ kinh doanh) có số nợ thuế dưới 1 triệu đồng, chiếm 51,5% tổng NNT thuộc trường hợp 3 nêu trên.
Trong dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định 126 và Nghị định 49, Bộ Tài chính đang đề xuất quy định thêm về ngưỡng nợ thuế để xác định tạm hoãn xuất cảnh với trường hợp 3 là 1 triệu đồng.
Dù sẽ có nhiều ý kiến liệu mức 1 triệu đồng này là phù hợp hay còn tương đối thấp, nhưng theo tôi, quy định ngưỡng nợ thuế cụ thể, nếu được thông qua, sẽ hạn chế được tương đối các tình huống “dở khóc dở cười”, đặc biệt trường hợp không cố ý nợ thuế với số tiền không đáng kể. Đồng nghĩa giảm thiểu được tình trạng công dân đến sân bay mới đọc thông báo và không kịp xuất cảnh một cách đáng tiếc.
Đối với trường hợp 4, mặc dù không có nhiều ý kiến trái chiều nhưng theo quan sát của tôi, cũng hết sức đáng lưu tâm, đặc biệt với trường hợp người nước ngoài thực hiện xuất cảnh khi kết thúc nhiệm kỳ làm việc ở Việt Nam.
Theo quy định, có hai mốc thời hạn mà cá nhân nước ngoài (đối tượng cư trú) phải khai quyết toán thuế với cơ quan thuế khi kết thúc nhiệm kỳ là: (i) trước khi xuất cảnh; và (ii) không quá 45 ngày kể từ ngày kết thúc hợp đồng làm việc tại Việt Nam.
Theo quan sát, người nước ngoài sẽ không tự quyết toán mà sẽ nhờ kế toán của chính công ty hoặc thuê bên ngoài thay mặt họ để thực hiện các thủ tục kê khai thuế, bao gồm cả thủ tục quyết toán thuế nêu trên. Thông thường, họ sẽ nhanh chóng thu xếp về nước luôn mà không đợi đến khi quyết toán thuế xong mới về.
Do việc quyết toán thuế cần thời gian để thu thập thông tin, tính toán chi tiết, chuẩn bị tờ khai và nộp tiền theo mã định danh khoản phải nộp (ID) nên kế toán công ty hoặc đơn vị thuê ngoài sẽ căn cứ vào thời hạn 45 ngày để hoàn thành công việc quyết toán thuế để làm sao không chịu phạt như phạt chậm nộp tờ khai, lãi chậm nộp thuế. Vì vậy, thời hạn quyết toán thuế trước khi xuất cảnh chỉ áp dụng cho mục đích xuất cảnh của chính người nước ngoài.
Điều này dẫn đến rủi ro người nước ngoài nếu đặt vé có ngày bay trước ngày quyết toán thuế nêu trên, họ rất dễ rơi vào trường hợp 4, và không thể xuất cảnh dù họ không cố ý và cũng không hề có lỗi trong việc quyết toán thuế.
Trên các diễn đàn, phần lớn các ý kiến đều cho rằng quy định hiện hành về việc tạm hoãn xuất cảnh khi số tiền nợ thuế thấp là chưa thực sự thấu tình đạt lý, đặc biệt trong bối cảnh nhiều cá nhân là doanh nhân cần đi công tác nước ngoài để mở rộng nguồn đối tác, ký kết hợp đồng, phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc các trường hợp cần đi gấp để chữa bệnh, thăm thân nhân v.v..
Lý do được đưa ra là ngoài biện pháp tạm hoãn xuất cảnh, hiện cũng đã có khá nhiều biện pháp cưỡng chế nợ thuế như trích tiền từ tài khoản, phong tỏa tài khoản của người nộp thuế; ngừng sử dụng hóa đơn; thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh v.v..
Việc không có quy định về ngưỡng nợ thuế trong trường hợp 4 cũng đáng được xem xét vì các công dân (gồm người Việt Nam định cư ở nước ngoài và cả người nước ngoài) nếu chẳng may bị lộ thông tin, rất dễ vướng rủi ro nợ thuế vào thời điểm họ không mong muốn nhất.
Cũng có ý kiến đề xuất cho phép được xử lý nộp thuế bằng cách nộp tiền ngay tại sân bay, tôi thấy hợp lý. Ý kiến này cùng với góp ý của các Bộ, Ban, ngành phần nào được tiếp thu và sửa đổi trong đề xuất của Bộ Tài chính về thời hạn cơ quan quản lý thuế ban hành thông báo hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh khi người nộp thuế hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế ngay trong ngày (so với chậm nhất không quá 24h tại Nghị định 49). Trong thời đại ngân hàng số, khi giao dịch nộp thuế có thể được thực hiện trong vài phút thì đây là sửa đổi tích cực, nếu được triển khai đồng bộ sẽ giúp công dân nộp thuế ngay để vẫn còn cơ hội xuất cảnh kịp thời.
Ngoài ra, theo tôi nếu có thêm cơ chế cho phép tạm nộp thuế vào tài khoản bảo lãnh xuất cảnh với số tiền bằng số tiền thuế nợ, đây có lẽ là “hành động cởi trói” được mong chờ nhất cho nhiều bà con Việt kiều hay các doanh nhân thường xuyên phải đi công tác nước ngoài.
Tôi rất tâm đắc với ý kiến chỉ đạo gần đây của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc chuyển đổi mô hình từ quản lý nợ thuế sang quản trị nguồn thu. Dù quy định nào cũng cần sự hài hòa cân đối giữa sự thuận tiện cho đối tượng áp dụng trong khi vẫn đảm bảo nghiêm minh. Tất nhiên nếu quy định được ban hành với tâm thế quản trị và nuôi dưỡng nguồn thu, thì sẽ lược bớt được đáng kể các biện pháp cưỡng chế, giảm phiền hà không đáng có từ khoản nợ thuế lắt nhắt và nhất là cởi trói được rắc rối thuế khi xuất cảnh.
Trước mắt, khi Nghị định sửa đổi về quản lý thuế chưa được chính thức ban hành, công dân trước khi xuất cảnh cần tích cực kiểm tra về tình hình nợ thuế của doanh nghiệp, hộ kinh doanh mà cá nhân đại diện và tình hình nợ thuế của chính công dân đó thông qua các kênh khác nhau, như địa chỉ email nhận thông báo của cơ quan thuế, VNeID, trang dịch vụ công của cơ quan thuế hay trang thông tin điện tử của cơ quan xuất nhập cảnh.
Như một lời mà tôi thường chào bạn bè, đồng nghiệp mỗi khi họ xuất ngoại (“Have a good trip! – Chúc chuyến đi tốt lành!”), hy vọng rằng mọi người đều có một chuyến đi xuất ngoại bình an trong thời gian sớm nhất!
Tác giả: Anh Nguyễn Mạnh Hà là Giám đốc tư vấn thuế, hiện công tác tại một công ty tư vấn kiểm toán hàng đầu ở Việt Nam và có trên 20 năm kinh nghiệm trong các lĩnh vực kiểm toán, kế toán và tư vấn thuế. Anh có chứng chỉ hành nghề dịch vụ làm thủ tục thuế từ năm 2010 và là hội viên kỳ cựu của Hiệp hội Kế toán Công chứng Anh Quốc (FCCA).
Bài viết trên thể hiện quan điểm cá nhân của tác giả!
Chuyên mục TÂM ĐIỂM mong nhận được ý kiến của bạn đọc về nội dung bài viết. Hãy vào phần Bình luận và chia sẻ suy nghĩ của mình. Xin cảm ơn!










