TPHCM: Gần 39.000 doanh nghiệp rời thị trường liệu có đáng lo?
(Dân trí) - Sự thay đổi hành vi tiêu dùng và áp lực chi phí khiến hàng loạt mặt bằng tại TPHCM bị trả lại. Con số gần 39.000 doanh nghiệp rời đi phản ánh sự thanh lọc khắt khe của thị trường hiện nay.
Những ngày cuối tháng 8, dọc nhiều tuyến đường ở TPHCM, không khó để bắt gặp những căn nhà mặt tiền treo biển cho thuê, cửa đóng im lìm trên các tuyến đường từng rất sầm uất như Phan Đình Phùng, Hai Bà Trưng, 3 Tháng 2, Phạm Văn Đồng…
Ngay cả những “phố chuyên doanh” như Hồ Văn Huê - nơi tập trung các cửa hàng váy cưới - hay Nguyễn Trãi với các cửa hàng thời trang, cũng có không ít mặt bằng bỏ trống trong thời gian dài.
Đóng cửa là phá sản?
Những cánh cửa đóng im lìm ấy dễ khiến người đi đường đặt câu hỏi: Phải chăng phía sau mỗi mặt bằng trả lại là một doanh nghiệp đã không thể trụ nổi? Thực tế, câu chuyện không đơn giản như vậy.
Ông Nguyễn Lê Thái Hòa, Giám đốc Công ty TNHH Hòa Mai, thương hiệu Ohi@ma, từng có thời gian mở 2-3 cửa hàng điện máy trên đường Xô Viết Nghệ Tĩnh (quận Bình Thạnh cũ). Sau khoảng 3 năm hoạt động, nhận thấy các cửa hàng không mang lại hiệu quả như kỳ vọng, ông quyết định đóng cửa và chuyển hướng kinh doanh.
Thương hiệu này chuyển sang bán sỉ các sản phẩm gia dụng bằng gỗ như đũa, chày, cối, vá, ly, tách, chén, dĩa, khay… đồng thời đưa hàng vào hệ thống siêu thị để tiếp cận tệp khách hàng ổn định hơn và tăng nhận diện thương hiệu. Với ông Hòa, đóng cửa hàng không có nghĩa doanh nghiệp dừng lại, mà là cách cắt giảm chi phí, thay đổi kênh bán hàng và tìm mô hình phù hợp hơn.
Câu chuyện này phần nào cho thấy những mặt bằng đang bỏ trống trên các tuyến phố TPHCM không thể được nhìn đơn thuần như dấu hiệu của một làn sóng phá sản.
Ông Nguyễn Quốc Tuấn, nhà sáng lập kiêm Giám đốc điều hành ScaleUp, nhận định thị trường bán lẻ TPHCM đang phân hóa rất rõ. Những tuyến phố từng sầm uất như Lê Văn Sỹ, Nguyễn Trãi, Hai Bà Trưng, Phan Đình Phùng đang xuất hiện nhiều mặt bằng trống, trong khi tại những khu vực đắc địa như Nguyễn Huệ, Lê Lợi hay Đồng Khởi, mặt bằng vẫn được các thương hiệu lớn lấp đầy.

Mặt bằng trên tuyến đường Lê Lợi đang được nhiều thương hiệu săn đón (Ảnh: Lê Tỉnh).
“Thị trường đang theo quy luật 80-20. Khoảng 20% doanh nghiệp làm tốt vẫn tiếp tục tăng trưởng, trong khi 80% phía dưới đang vật vã, phải trả mặt bằng”, ông Tuấn nói.
Điều đáng chú ý là nhóm doanh nghiệp đang tăng trưởng không chỉ có những cái tên lâu năm. Thế Giới Di Động vẫn duy trì tăng trưởng ổn định, trong khi Coolmate - một thương hiệu vốn phát triển mạnh trên môi trường online cũng bắt đầu mở rộng sang cửa hàng vật lý.
Điều đó cho thấy cửa hàng mặt tiền chưa biến mất, nhưng doanh nghiệp đang cân nhắc kỹ hơn việc có cần một mặt bằng đắt đỏ hay không và mặt bằng đó phải tạo ra giá trị gì cho hoạt động kinh doanh.
Ông Nguyễn Mạnh Tấn, Giám đốc Marketing Công ty cổ phần công nghệ Haravan, cho hay có 3 nguyên nhân chính khiến nhiều mặt bằng bán lẻ kém sôi động. Trước hết là sự thay đổi hành vi tiêu dùng khi người dân chuyển mạnh sang mua sắm online, đặc biệt với các nhóm hàng như thời trang, mỹ phẩm, phụ kiện, điện máy. Bên cạnh đó là sự thay đổi trong mô hình vận hành. Người bán online vẫn cần mặt bằng nhưng chủ yếu để làm kho, xử lý đơn hàng, livestream hoặc chụp hình sản phẩm, thay vì duy trì một cửa hàng mặt tiền có chi phí cao.
Vì vậy, một cửa hàng đóng cửa chưa chắc đồng nghĩa doanh nghiệp “khai tử”. Có khi đó chỉ là dấu hiệu cho thấy doanh nghiệp đang rút khỏi một mô hình không còn phù hợp.
Làm rõ con số 39.000 doanh nghiệp rút khỏi thị trường?
Nếu những mặt bằng trống chỉ phản ánh một phần sự thay đổi trong lĩnh vực bán lẻ, thì số liệu doanh nghiệp rút khỏi thị trường cho thấy bức tranh rộng hơn.
Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của Thống kê TPHCM, 7 tháng đầu năm 2026, thành phố có 34.096 doanh nghiệp thành lập mới, tăng hơn 22% so với cùng kỳ. Ở chiều ngược lại, có 7.483 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng tới 158%; đồng thời 31.321 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 10,5%. Trong khi đó, chỉ 12.221 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 2,87%. Lũy kế, tổng số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường trong 7 tháng đã gần 39.000 doanh nghiệp.
Tại cuộc họp về tình hình kinh tế - xã hội ngày 12/8, Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Văn Được yêu cầu làm rõ tỷ lệ “sinh - tử” của doanh nghiệp, khi số doanh nghiệp rời thị trường trong tháng 7 tiếp tục cao hơn số doanh nghiệp mới gia nhập. Lãnh đạo thành phố đánh giá đây là vấn đề cần quan tâm trong bối cảnh TPHCM đang đặt mục tiêu tăng trưởng trên 10% trong năm nay.
Đáng chú ý, quá trình này diễn ra trong khi kinh tế thành phố vẫn tăng trưởng. Sáu tháng đầu năm, GRDP TPHCM tăng 8,55%, mức cao nhất trong 10 năm; tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội tăng 9,9%, trong khi vốn FDI thu hút tiếp tục tăng mạnh. Thành phố cũng xác định huy động đầu tư tư nhân là một trong những động lực quan trọng để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số.
Trao đổi với phóng viên Dân trí, ông Phạm Bình An, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển TPHCM (HIDS), cho hay quan sát thực tế và báo cáo từ các số liệu đều cho thấy số doanh nghiệp rút khỏi thị trường đang cao hơn số doanh nghiệp gia nhập thị trường. Ở khía cạnh nào đó, trong 6 tháng đầu năm, số doanh nghiệp giải thể tăng khá nhiều.
Không phải “đột biến” nhưng tăng khá nhiều như vậy thì cần phải có một phân tích kỹ hơn để xem những doanh nghiệp rút khỏi thị trường là vì sao, nguyên nhân gì? Khi đó mới đề xuất những chính sách phù hợp, vì con số chưa thể nói hết được vấn đề.
"Hiện Chủ tịch UBND TPHCM đã giao cho HIDS nghiên cứu để trả lời rất nhanh, xem câu chuyện là nguyên nhân từ đâu và tác động như thế nào với tăng trưởng hai con số. Từ đó, chắc chắn phải đưa ra những đề xuất, kiến nghị để hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp”, ông Bình An nói.
Nhìn ở góc độ thị trường, lãnh đạo của HIDS nhận định có nhiều nguyên nhân trong bức tranh doanh nghiệp TPHCM rời thị trường. Như chính sách thuế hấp dẫn hơn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, thì một số đơn vị này có thể tái cấu trúc kỹ thuật, giải thể, sau đó thành lập doanh nghiệp mới để hưởng thuế suất ưu đãi.
Nhưng họ đã có nền tảng sản xuất và khi thành lập doanh nghiệp mới thì không phải bắt đầu từ đầu, mà đã có khách hàng nên tận dụng ngay được ưu đãi thuế. Hoặc cũng có thể có nhiều doanh nghiệp với những khó khăn về tiếp cận vốn; khó khăn trong bán hàng, cung cấp dịch vụ…
Cần phải phân tích kỹ 38.800 doanh nghiệp rút khỏi thị trường này do những nguyên nhân gì, xem xét mức độ tác động tới tăng trưởng kinh doanh TPHCM tới đâu?
"Hiện tại, các cơ quan chức năng đang đẩy nhanh tốc độ làm sạch các hồ sơ nên có thể bao gồm cả số doanh nghiệp rời thị trường. Từng nhóm doanh nghiệp, quy mô, lĩnh vực và nguyên nhân là các yếu tố rất quan trọng để thành phố đưa ra chính sách phù hợp”, ông Bình An nói thêm.
Ở góc nhìn khác, theo một số chuyên gia, gần 39.000 doanh nghiệp rút khỏi thị trường trong 7 tháng đầu năm không đồng nghĩa tất cả đều đóng cửa vì khó khăn. Có doanh nghiệp thực sự dừng hoạt động, nhưng cũng có những trường hợp chủ động thu hẹp một mảng kinh doanh, thay đổi mô hình để cân đối nguồn lực và tiếp tục hoạt động.
Đơn cử, giữa tháng 7, Cà Mèn Foods (trụ sở tại TPHCM) là một dự án khởi nghiệp từng gây chú ý trên thị trường - chính thức thông báo dừng mảng thực phẩm đóng gói. Phía doanh nghiệp cho rằng để tồn tại và phát triển, điều quan trọng nhất vẫn là dòng tiền, nên lựa chọn thu hẹp một mảng hoạt động để tập trung nguồn lực cho hướng đi phù hợp hơn.
Cà Mèn Quán - quán chuyên đặc sản Quảng Trị tại TPHCM, tiền thân của dự án sẽ vẫn tiếp tục hoạt động, chỉ mảng sản phẩm đóng gói phải dừng lại. Trường hợp Cà Mèn Foods cho thấy một doanh nghiệp có thể rút khỏi một mảng kinh doanh nhưng vẫn tiếp tục hoạt động với hướng đi khác.
Theo bà Lê Ngọc Mỹ Tiên, Tổng giám đốc kiêm đồng sáng lập BlockchainWork, con số gần 39.000 doanh nghiệp rút khỏi thị trường vì thế cần được nhìn nhận từ nhiều nguyên nhân, thay vì mặc định đây là dấu hiệu môi trường kinh doanh đang xấu đi.
Trong số doanh nghiệp rời thị trường có những doanh nghiệp đã ngừng hoạt động trong thời gian dài nhưng vẫn duy trì pháp nhân vì trước đây cho rằng việc này không gây ảnh hưởng đáng kể. Khi các quy định pháp lý ngày càng chặt chẽ, việc tiếp tục duy trì doanh nghiệp không hoạt động có thể phát sinh thêm rủi ro, nghĩa vụ hoặc các vấn đề liên quan. Vì vậy, một bộ phận doanh nghiệp lựa chọn hoàn tất thủ tục giải thể thay vì tiếp tục để pháp nhân “treo”.
“Dù vậy, bên cạnh nhóm doanh nghiệp chủ động đóng những pháp nhân không còn hoạt động, cũng đang có những doanh nghiệp thực sự đang gặp khó khăn trong quá trình vận hành”, bà Tiên chia sẻ.





