Kenneth Lay: đoạn kết của huyền thoại Enron

Kenneth Lay, người sáng lập và lãnh đạo Enron trong suốt 15 năm vàng son, nay đã yên nghỉ giấc nghìn thu và 45 năm ở tù sẽ không bao giờ được thực hiện với con người này.

Kenneth Lay, người sáng lập và lãnh đạo Enron đã yên nghỉ giấc nghìn thu và 45 năm ở tù sẽ không bao giờ được thực hiện với con người này.

 

Qua đời khi đang chờ kết án về tội gian lận

 

Ông Kenneth Lay, cựu chủ tịch Tập đoàn Enron vang bóng một thời của Mỹ, đã đột quỵ và qua đời lúc rạng sáng thứ tư 5/7/2006 giờ địa phương. Cùng với cựu Giám đốc Jeffrey Skilling, ông đã bị buộc tội trong vụ phá sản Enron năm 2001 với tổng số nợ lên tới khoảng 13 tỷ đôla và khiến bốn ngàn người mất việc.

 

Phiên tòa xét xử gian lận kinh doanh lớn nhất nước Mỹ hôm 25/5/2006 đã kết cho ông Lay sáu tội danh. Ông đã nộp 5 triệu đôla để tại ngoại. Dự kiến đến tháng 10 ông sẽ phải nhận án tù lên tới 45 năm. Giờ đây, ông đã yên nghỉ giấc nghìn thu và án tù sẽ không bao giờ được thực hiện.

 

Chân dung người gây dựng và dẫn dắt Enron

 

Kenneth Lay sinh năm 1942, tốt nghiệp đại học Missouri năm 1964. Ông là Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Enron trong suốt 15 năm, từ ngày đầu thành lập công ty năm 1985. Ông chỉ giao quyền giám đốc cho người kế nhiệm vài tháng trước khi công ty tuyên bố phá sản vào tháng 12/2001.

 

Kenneth Lay: đoạn kết của huyền thoại Enron  - 1

Trong phiên đối chất trước Thượng viện Hoa Kỳ

 

Cá nhân Lay có mối quan hệ mật thiết với nhiều chính trị gia hàng đầu trong Chính phủ và Quốc hội Hoa Kỳ, đặc biệt là trong Đảng Cộng hòa. Ông Lay là người đi đầu trong những cuộc vận động đóng góp tài chính cho các chiến dịch tranh cử. Để đổi lại, Ken Lay vận động cho các chính sách có lợi cho công ty mình, đặc biệt là chính sách nới lỏng kiểm soát của nhà nước trong lĩnh vực năng lượng.

 

Trước khi công ty tuyên bố tình trạng phá sản vào tháng 12/2001, Lay đã bán 71% số cổ phiếu của mình và thu được lợi nhuận 90 triệu đô la. Hầu hết trong số 287 vụ giao dịch mua bán này không được công bố và chỉ được tiết lộ vào tháng 2/2002. Vào đầu năm 2001, Lay bán được 79 đô la mỗi cổ phiếu. Vào cuối năm 2001, mỗi cổ phiếu chỉ còn trị giá 0,6 đô la.

 

Bốn năm sau vụ bê bối gian lận tài chính thuộc diện lớn nhất trong lịch sử kinh doanh của nước Mỹ, Ken Lay và cựu Giám đốc điều hành Jeffrey Skilling phải ra trước Tòa án ở Houston vì nhiều tội danh, trong đó có tội thông đồng và gian lận.

 

Tuy nhiên, ông Lay luôn tuyên bố mình vô tội, giải thích việc sụp đổ của Enron là do các nhà đầu tư mất lòng tin sau khi Giám đốc tài chính Andrew Fastow ăn cắp hàng triệu đôla tiền công ty.

 

Hành trình của một doanh nghiệp đại gia

 

Câu chuyện về Công ty Enron của Mỹ là thời sự nóng nhất trên thị trường tài chính thế giới vào giai đoạn cuối năm 2001 và đầu năm 2002. Câu chuyện nóng lên trở lại từ tháng 7/2004, khi Tổng giám đốc kiêm chủ tịch của công ty bắt đầu bị khởi tố.

 

 

 

Hành trình của Enron

 

1985: Enron được thành lập

 

2001: Enron bị lỗ 638 triệu trong quý ba

 

10/2001: Ủy ban chứng khoán bắt đầu điều tra

 

12/2001: Enron vỡ nợ, xin phá sản

 

2004: Cựu giám đốc tài chính Andrew Fastow bị án mười năm tù

 

1/2006: Bắt đầu vụ xét xử Enron

 

5/2006: Hai ông Skilling và Lay bị kết tội gian lận và mức án sẽ được tuyên vào tháng 10/2006

 

Với một lịch sử ngắn ngủi, Enron nhanh chóng trở thành một công ty đa quốc gia hùng mạnh trong lĩnh vực năng lượng. Enron đã trở thành công ty lớn thứ bảy của Hoa kỳ và có lúc là công ty năng lượng hàng đầu thế giới. Công ty có hoạt động ở hơn 30 quốc gia trên thế giới, bao gồm cả Việt Nam.

 

Với một lịch sử ngắn ngủi, Enron nhanh chóng trở thành một công ty đa quốc gia hùng mạnh trong lĩnh vực năng lượng. Enron đã trở thành công ty lớn thứ bảy của Hoa kỳ và có lúc là công ty năng lượng hàng đầu thế giới. Công ty có hoạt động ở hơn 30 quốc gia trên thế giới, bao gồm cả Việt Nam.

 

Lĩnh vực hoạt động chính của công ty đã mở rộng dần từ vận chuyển và phân phối khí đốt sang buôn bán xăng dầu và khí đốt, xây dựng các nhà máy điện và cung cấp điện.

 

Trên con đường phát triển và mở rộng lĩnh vực hoạt động, việc kinh doanh của Enron ngày càng mang thêm nhiều rủi ro.

 

Trong việc kinh doanh vận chuyển qua hệ thống đường ống, cả lượng và giá đều ổn định. Nhưng trong lĩnh vực buôn bán khí đốt và xăng dầu, giá cả dao động rất mạnh đồng thời số lượng cũng dao động do sức ép cạnh tranh.

 

Từ năm 1985 đến cuối năm 2001, giá cổ phiếu của công ty liên tục tăng lên. Cao điểm là vào tháng 10/2001, giá cổ phiếu của công ty đã tăng hơn gấp đôi trong vòng chỉ một năm.

 

Khủng hoảng bắt đầu hiện ra từ cuối năm 2001. Ngày 26/10/2001, công ty lần đầu tiên thừa nhận đã lỗ hàng trăm triệu USD trong một quý. Ngay trong tháng 12 năm đó, công ty tuyên bố phá sản, khiến cho hàng nghìn người bị mất việc làm và "xóa xổ" tài khoản hưu trí trị giá hàng tỷ USD của các nhân viên.

 

Thủ thuật và sớm nở chóng tàn

 

Phép màu nào đã đưa Enron nhanh chóng lên đỉnh cao như một công ty năng lượng lớn nhất thế giới? Đáng tiếc là chính phép màu đó đã đưa Enron đến diệt vong. Đó là câu chuyện về công ty mẹ - con.

 

Một công ty có thể mở ra một hay nhiều công ty con "dưới bóng" của mình. Công ty con dựa uy công ty mẹ để được vay vốn, để thắng thầu, để xây dựng thương hiệu. Công ty mẹ sử dụng công ty con để huy động vốn, để hứng chịu những hợp đồng đầy rủi ro, để giấu bớt những trách nhiệm nợ của mình, làm cho báo cáo tài chính "đẹp đẽ" hơn... Ngay cả những hợp đồng mua đi bán lại giữa mẹ và con cũng tạo ra doanh thu và lợi nhuận để báo cáo.

 

Chẳng có gì sai, nếu mọi chuyện dừng ở mức độ 2-3 công ty con. Vấn đề là Enron đã tạo ra hơn 900 công ty con, chủ yếu nằm ở những nước dễ dãi nhất về luật kế toán. Tất cả hệ thống nhằm che dấu lỗ lã và rủi ro, trong khi đó lại phóng đại lợi nhuận và tài sản. Hệ thống lại được thiết kế bởi các chuyên gia tài chính rất tài giỏi, và được bảo đảm bởi một trong 5 đại gia ngành kiểm toán của thế giới: Arthur Andersen.

 

Cho đến khi câu chuyện vỡ lở: lợi nhuận chẳng cao và tài sản chẳng nhiều như đã báo cáo.

 

Bài học muộn màng

 

Quốc hội Mỹ đã phải ra một luật mới về quy chế tài chính cho công ty mẹ - con, và trách nhiệm của kiểm toán.

 

Tình thế của công ty kiểm toán Arthur Andersen cũng chẳng khá gì hơn. Từ một công ty với 85 ngàn nhân viên, đến nay chỉ còn lại 200 người, chủ yếu để lo giải quyết hơn 100 vụ kiện nhắm vào công ty, với cáo buộc đã gây thiệt hại cho các nhà đầu tư hơn 300 tỉ đô la.

 

Hàng loạt quan chức của Enron và Andersen hoặc đã vào tù hoặc đang chờ án tù.

 

Những nạn nhân chính là những người mua cổ phiếu. Những người "bên trong" đã nhanh tay bán cổ phiếu trước khi thảm hoạ được phát hiện. Còng hầu hết cổ đông "bên ngoài", cuộc tháo chạy giống như một thảm hoạ. Có những người đã mua cổ phiếu với giá 90 đô la và để nhận được 0,6 đô la sau không đầy 1 năm! 

 

 Theo Nhật Vy

VietNamnet