DNews
Giáo dục

Khoa học không thể phát triển bằng tư duy hành chính

(Dân trí) - Không có khoa học cơ bản mạnh sẽ không có công nghệ lõi, không có tự chủ công nghệ và cũng khó hình thành nền kinh tế tri thức thực sự.

Nhà khoa học cần được bảo vệ trước những rủi ro

Trong nhiều năm, tăng trưởng của Việt Nam chủ yếu được nhìn qua các động lực quen thuộc như vốn đầu tư, lao động, tài nguyên, xuất khẩu, hạ tầng và thị trường. Những yếu tố đó rất quan trọng, nhưng trong thế kỷ XXI, sức mạnh quốc gia không còn được quyết định chủ yếu bởi khả năng khai thác tài nguyên hay tận dụng lao động giá rẻ nữa. Sức mạnh ấy ngày càng phụ thuộc vào năng lực tạo ra tri thức mới, công nghệ lõi mới, dữ liệu mới và đội ngũ nhân tài đủ sức làm chủ tương lai.

Khoa học không thể phát triển bằng tư duy hành chính - 1

Cơ chế đầu tư dài hạn là điều kiện tiên quyết để hình thành các trường phái khoa học Việt Nam (Ảnh minh hoạ: Minh Nhật).

Việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh nghiên cứu khoa học cơ bản là “nền tảng chiến lược” của phát triển quốc gia cho thấy một chuyển biến rất căn bản trong tư duy phát triển của đất nước. Đó là chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa vào lợi thế sẵn có sang mô hình phát triển dựa trên tri thức, đổi mới sáng tạo và tự chủ công nghệ.

Khoa học cơ bản chính là nền tảng tri thức khoa học - công nghệ của quốc gia. Không có khoa học cơ bản mạnh thì không thể làm chủ được các công nghệ cao, công nghệ lõi. Không có công nghệ lõi thì khó có nền công nghiệp tiên tiến hiện đại và càng khó nói tới tự chủ chiến lược quốc gia.

Các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, vật liệu mới, công nghệ sinh học, lượng tử hay năng lượng mới đều không xuất hiện từ những dự án ngắn hạn. Chúng là kết quả của hàng chục năm, vài chục năm đầu tư bền bỉ cho nghiên cứu cơ bản.

Điều đó cũng có nghĩa, nếu Việt Nam muốn trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, thì không thể chỉ đi theo công nghệ của người khác. Chúng ta phải có năng lực tạo ra tri thức, hấp thụ tri thức, làm chủ công nghệ và từng bước đóng góp vào kho tri thức chung của nhân loại.

Song, để khoa học cơ bản thực sự trở thành nền tảng chiến lược của quốc gia, điều đầu tiên tôi cho rằng phải gỡ nút thắt lớn nhất hiện nay là cơ chế quản trị khoa học và quản trị đại học – vì các trường đại học, viện nghiên cứu là những cái nôi của khoa học cơ bản. Chính cơ chế quản trị chưa phù hợp đã kéo theo nhiều bất cập về tài chính, sử dụng nhân lực, đánh giá kết quả và xây dựng môi trường học thuật.

Nghiên cứu cơ bản có đặc thù rất khác với hoạt động sản xuất thông thường. Nó cần có nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao trên nền tảng kiến thức được trang bị và đào tạo bài bản, lại cần có thời gian dài để nghiên cứu sáng tạo và tích lũy tri thức, cần tự do học thuật, cần chấp nhận rủi ro và không phải lúc nào cũng có thể đo lường ngay bằng sản phẩm thương mại.

Nếu khoa học vẫn được quản lý bằng tư duy hành chính, bằng tầm nhìn ngắn hạn, dự toán theo năm và tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm, thì nhà khoa học sẽ bị cuốn vào hồ sơ, chứng từ và thanh quyết toán thay vì tập trung cho sáng tạo.

Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặt mục tiêu đến tháng 6/2027 phải tháo gỡ toàn bộ các điểm nghẽn, nút thắt của nghiên cứu khoa học cơ bản, chuyển từ “quản lý hành chính” sang “quản trị sáng tạo”, từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, đồng thời chấp nhận rủi ro khoa học.

Điều đó cho thấy quyết tâm đổi mới tư duy quản trị khoa học và giáo dục đại học rất quyết liệt và có tầm chiến lược. Nếu thực hiện được một cách thực chất, đây sẽ là bước đột phá quan trọng để khoa học cơ bản Việt Nam cất cánh.

Hiện nay, hơn 80% công bố quốc tế của Việt Nam đến từ các trường đại học. Các trường đại học, viện nghiên cứu đang giữ vai trò nòng cốt trong việc sáng tạo trí thức mới, tri thức đỉnh cao, phát triển khoa học cơ bản.

Tôi cho rằng để tạo động lực và nguồn lực cho các trường đại học và các viện nghiên cứu phát triển đột phá, cần tiếp tục đổi mới quản trị đại học, tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, cho phép các trường đại học, viện nghiên cứu thực hiện tự chủ một cách toàn diện, triệt để và sâu sắc hơn, mới có thể đưa khoa học Việt Nam phát triển đột phá trong thời gian tới.

Khoa học không thể phát triển bằng tư duy hành chính - 2

Nhà khoa học cần được trao quyền tự chủ cao hơn trong sử dụng kinh phí (Ảnh minh hoạ: Minh Nhật).

Từ tư duy quản lý hành chính, chuyển sang “quản trị sáng tạo” không có nghĩa là buông lỏng quản lý, mà là quản lý phù hợp hơn với bản chất của hoạt động khoa học. Nhà khoa học cần được trao quyền tự chủ cao hơn trong sử dụng kinh phí, tổ chức nhóm nghiên cứu, hợp tác quốc tế và theo đuổi các ý tưởng mới. Đổi lại, họ phải chịu trách nhiệm bằng chất lượng khoa học và liêm chính học thuật.

Khi nhà khoa học được tin tưởng, được trao quyền và được bảo vệ trước những rủi ro chính đáng của nghiên cứu, họ mới có thể dám nghĩ lớn, dám làm việc khó và theo đuổi những bài toán dài hạn.

Đầu tư dài hạn mới tạo được trường phái khoa học Việt Nam

Từ kinh nghiệm xây dựng nhóm nghiên cứu về vật liệu và kết cấu tiên tiến của mình trong suốt hơn 20 năm qua, tôi cho rằng cơ chế đầu tư dài hạn là điều kiện tiên quyết để hình thành các trường phái khoa học Việt Nam.

Khoa học đỉnh cao không thể hình thành bằng tư duy nhiệm kỳ, bằng đề tài ngắn hạn, bằng nguồn lực manh mún hoặc bằng cách đầu tư dàn trải. Một trường phái khoa học cần có người dẫn dắt, có nhóm nghiên cứu, có đội ngũ kế cận, có phòng thí nghiệm, có dữ liệu, có phương pháp, có môi trường học thuật và có thời gian đủ dài sáng tạo và phát triển, tích lũy tri thức.

Vì vậy, khi có kết luận chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước về việc xây dựng Quỹ nghiên cứu cơ bản quốc gia đa niên, tài trợ dài hạn 5-10-15 năm cho các nhóm nghiên cứu mạnh và trung tâm xuất sắc – tôi và các đồng nghiệp, các nhà khoa học rất phấn khởi. Đây là cách tiếp cận rất đúng và trúng, phù hợp với đặc thù của khoa học cơ bản và cũng là điều kiện quan trọng để Việt Nam từng bước hình thành các trường phái khoa học có chiều sâu và năng lực cạnh tranh quốc tế.

Tài trợ 5-10-15 năm cho các nhóm nghiên cứu mạnh và trung tâm xuất sắc sẽ tạo ra sự ổn định cần thiết để nhà khoa học theo đuổi các bài toán lớn. Những bài toán như vật liệu mới, bán dẫn, AI, công nghệ sinh học, năng lượng mới, biến đổi khí hậu, khoa học biển, khoa học dữ liệu hay các vấn đề lý luận về mô hình phát triển Việt Nam đều không thể giải quyết trong một vài năm. Chúng cần sự bền bỉ, liên ngành và kế thừa qua nhiều thế hệ nhà khoa học.

Đầu tư cho nghiên cứu cơ bản cũng chính là đầu tư cho đào tạo nhân lực tinh hoa. Một nhóm nghiên cứu mạnh vừa tạo ra công bố, vừa tạo ra các công nghệ lõi, vừa là nơi thu hút nhân tài, đào tạo các tiến sĩ và các thực tập sinh sau tiến sĩ giỏi, từ môi trường đó họ dần hình thành các chuyên gia đầu ngành, hình thành trường phái khoa học Việt Nam - tài sản lâu dài của quốc gia.

Quỹ nghiên cứu cơ bản quốc gia đa niên, nếu được vận hành minh bạch, đánh giá độc lập khách quan, đầu tư tới tầm, xứng tầm và chấp nhận rủi ro, sẽ là công cụ rất quan trọng và hiệu quả để hỗ trợ nghiên cứu cho các nhà khoa học và các nhóm nghiên cứu, từ đó tạo ra các trung tâm xuất sắc, các trường phái khoa học của Việt Nam và nâng năng lực tự chủ công nghệ của đất nước lên một tầm mới.

Dữ liệu - tài nguyên của Quốc gia, nền tảng phát triển kinh tế số

Trong chỉ đạo của mình, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng đã nhấn mạnh: Trong thời đại của trí tuệ nhân tạo (AI), vấn đề dữ liệu - được xem là “hạ tầng chiến lược” của nghiên cứu cơ bản. Tôi rất đồng tình và cho rằng Việt Nam cần ưu tiên xây dựng và phát triển một số nền tảng dữ liệu lớn.

Thứ nhất là dữ liệu khoa học tự nhiên và công nghệ, bao gồm dữ liệu về vật liệu, năng lượng, môi trường, khí hậu, biển, sinh học, y sinh, nông nghiệp, xây dựng, hạ tầng, năng lượng và công nghiệp. Đây là nền tảng để phát triển các công nghệ chiến lược như vật liệu mới, bán dẫn, năng lượng mới, công nghệ sinh học và công nghệ môi trường.

Thứ hai là dữ liệu xã hội quốc gia, bao gồm dân cư, lao động, giáo dục, y tế, gia đình, đô thị, truyền thông số và hành vi xã hội. Những dữ liệu này rất quan trọng cho hoạch định chính sách, dự báo chiến lược, quản trị xã hội và phát triển con người.

Thứ ba là dữ liệu văn hóa, dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ và di sản Việt Nam. Trong kỷ nguyên AI tạo sinh, nếu Việt Nam không có kho dữ liệu tiếng Việt, văn hóa Việt, lịch sử Việt, di sản Việt được số hóa và chuẩn hóa, thì sẽ không có tài nguyên cho các mô hình AI trong tương lai, sẽ phản ánh không đầy đủ tri thức, bản sắc và giá trị Việt Nam.

Thứ tư là dữ liệu phục vụ giáo dục và đào tạo nhân lực, đặc biệt là dữ liệu về giáo dục và đào tạo, năng lực học tập – nghiên cứu, kỹ năng, việc làm và nhu cầu thị trường lao động. Đây là cơ sở để đổi mới giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học, đào tạo nhân lực chất lượng cao, trình độ cao và kết nối giáo dục đại học với chiến lược phát triển quốc gia.

Khoa học không thể phát triển bằng tư duy hành chính - 3
Khoa học không thể phát triển bằng tư duy hành chính - 4

Tuy nhiên, xây dựng dữ liệu không chỉ là số hóa. Cần có chuẩn dữ liệu, cơ chế thu thập, chia sẻ dữ liệu; bảo vệ quyền riêng tư, an ninh dữ liệu; sở hữu trí tuệ; hạ tầng công nghệ thông tin và tính toán hiệu năng cao đủ mạnh. Dữ liệu là tài nguyên và phải được quản lý như tài sản chiến lược của quốc gia.

Gắn nghiên cứu khoa học cơ bản với các bài toán lớn của Quốc gia

Cuối cùng, việc gắn nghiên cứu khoa học cơ bản với các bài toán lớn của đất nước và mục tiêu tự chủ các công nghệ chiến lược có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc định hướng phát triển các ngành khoa học cơ bản của Việt Nam trong thời gian tới và thực hiện khát vọng phát triển Việt Nam đến năm 2045.

Chúng ta không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào gia công, lắp ráp, lao động giá rẻ hay khai thác tài nguyên để cạnh tranh. Muốn nâng năng suất, nâng giá trị gia tăng và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, Việt Nam phải có năng lực tri thức và công nghệ của chính mình.

Nghiên cứu cơ bản chính là nền tảng để hình thành năng lực tự chủ các công nghệ lõi, trong các lĩnh vực then chốt như AI, bán dẫn, vật liệu mới, khoa học sức khỏe, công nghệ sinh học, năng lượng, dữ liệu hay an ninh mạng.

Quan trọng hơn, khoa học cơ bản không chỉ tạo ra công nghệ, mà thông qua phát triển khoa học cơ bản, còn đào tạo nguồn nhân lực tinh hoa chất lượng cao, trình độ cao, cung cấp luận cứ cho hoạch định chính sách, quản trị quốc gia và mô hình phát triển của Việt Nam trong dài hạn.

Nếu thực hiện quyết liệt các chỉ đạo của Tổng Bí Thư – Chủ tịch nước với tầm nhìn và đầu tư dài hạn, thu hút trọng dụng nhân tài – không để tài năng nào bị bỏ sót, sáng kiến nào bị lãng quên – đồng thời xây dựng nền tảng dữ liệu lớn, chuyển đổi số mạnh mẽ; đổi mới tư duy quản lý, tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế; đầu tư tới tầm và xứng tầm cho khoa học cơ bản và giáo dục đại học; đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, gắn các nghiên cứu khoa học với các bài toán của thực tiễn; thực hiện hiệu quả mô hình liên kết bốn nhà: Nhà nước – Nhà trường, Nhà khoa học và Doanh nghiệp, tôi hoàn toàn tin tưởng là chúng ta sẽ thực hiện thành công Nghị quyết 57 và Nghị quyết 71, đến năm 2045 Việt Nam không chỉ có quy mô kinh tế lớn, giàu mạnh, hùng cường và thịnh vượng, mà còn có chiều sâu tri thức, năng lực sáng tạo và vị thế khoa học xứng đáng trong khu vực và thế giới.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức

Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội