"Phá di tích thu nghìn tỷ, nhưng giá trị văn hóa không thể tính bằng tiền"
(Dân trí) - Bà Lê Tú Cẩm - Chủ tịch Hội Di sản văn hóa TPHCM - cho rằng, cần thay đổi tư duy xem di sản văn hóa là điều cản trở sự phát triển kinh tế. Nếu biết cách khai thác, di sản chính là tài nguyên vô giá.
Bà Lê Tú Cẩm từng là cựu tù chính trị Côn Đảo, Phó Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin TPHCM (nay là Sở Văn hóa và Thể thao TPHCM). Ở tuổi 78, sau khi nghỉ hưu, bà vẫn tham gia nhiều hoạt động, có những đóng góp quan trọng trong vai trò là Ủy viên Ban thường vụ Hội Di sản văn hóa Việt Nam, Chủ tịch Hội Di sản văn hóa TPHCM.
Góp ý về Dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV ở lĩnh vực văn hóa nói chung, di sản văn hóa nói riêng, bà Lê Tú Cẩm chia sẻ với phóng viên Dân trí những trăn trở để phát huy giá trị di sản, tầm quan trọng của việc giáo dục nhận thức cho thế hệ sau và bài toán để công nghiệp văn hóa được ghi nhận xứng tầm với những đóng góp trong kỷ nguyên mới.

Chủ tịch Hội Di sản văn hóa TPHCM trong cuộc trò chuyện với phóng viên Dân trí (Ảnh: Bích Phương).
"Giữ di sản và phát triển kinh tế từng là cuộc cạnh tranh không cân sức"
Nhìn vào bức tranh toàn cảnh ngành di sản văn hóa Việt Nam hiện nay, bà vui mừng vì điều gì?
- Là người làm văn hóa nhiều năm, tôi thấy nhận thức của xã hội về di sản văn hóa có những chuyển biến tích cực. Khoảng 20 năm trước, gần như không mấy ai biết đến khái niệm "bảo tồn di sản văn hóa". Lúc đó, người ta chỉ biết về bảo tàng này, di tích kia. Ngay cả bộ ngành cũng không tồn tại khái niệm quản lý di sản, mà chỉ có Cục Bảo tồn Bảo tàng.
Năm 2008, sau khi Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch đổi tên Cục Bảo tồn Bảo tàng thành Cục Di sản văn hóa, công tác bảo vệ và phát huy di sản văn hóa đã để lại nhiều dấu ấn.
Ngày nay, chỉ cần mở tivi, sách báo, chúng ta đều có thể đọc, nghe và thấy về khái niệm di sản văn hóa xuất hiện thường xuyên. Đó là bước tiến lớn về nhận thức. Xã hội đã hiểu ra rằng, "di sản" nghĩa là tài sản để lại của cha ông, là những giá trị từng có nhưng sau này không còn hiện hữu đầy đủ và chúng ta phải tìm cách giữ lấy.
Điều gì khiến bà vẫn còn trăn trở?
- Bảo tồn di sản văn hóa thì mênh mông, nhiều vấn đề, nhưng tôi tâm tư nhất về khung pháp lý. Trước nay, hiếm có trường hợp bị xử lý hình sự đối với hành vi xâm hại di tích, di sản.
Luật di sản chưa đi vào thực tiễn cuộc sống. Cần có những chế tài nghiêm khắc hơn, việc thực thi pháp luật phải quyết liệt hơn, để những người tự giác và những người chưa tự giác đều có ý thức giữ gìn di sản.

Chợ Bến Thành được UBND TPHCM xếp hạng di tích cấp thành phố vào tháng 11/2024 (Ảnh: Nam Anh).
Nói riêng về TPHCM, bà đánh giá thế nào về tình trạng di sản văn hóa ở thành phố bị xuống cấp, xâm hại?
- TPHCM để mất một số di tích là do nhiều vấn đề. Đầu tiên vẫn là do nhận thức. Ngày xưa người ta chưa nhận ra được tầm quan trọng của di sản vật thể. Thứ hai là tiền. Muốn giữ di sản phải có tiền. Di tích nào cũng phải đến kỳ chỉnh trang, tu sửa, nhưng hằng năm, kế hoạch trùng tu di tích vẫn phải "xếp hàng dài" chờ đợi.
Tôi trăn trở về sự cạnh tranh không cân sức giữa việc giữ tài nguyên quốc gia mang lại bạc cắc, với việc phát triển kinh tế tạo bạc tỷ. Câu chuyện TPHCM mất một số di tích là vì rất nhiều yếu tố. Nhiều người cứ hỏi tại sao? Tại thực tế nó như vậy!
Mối quan hệ giữa bảo tồn di sản văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội luôn là vấn đề nan giải. Một mặt, chúng ta cần hiện đại hóa, mặt khác cần giữ hồn cốt văn hóa. Hai yếu tố này xung đột ra sao, thưa bà?
- Từ rất nhiều năm trước, đặc biệt là sau khi có chủ trương đổi mới, chuyển sang cơ chế thị trường, có nhiều vấn đề đặt ra với ngành di sản văn hóa. Một số người quan niệm rằng, phát triển là phải xây dựng, bê tông hóa. Do đó, nhiều di sản vật thể như các công trình kiến trúc, di tích đối diện với làn sóng hiện đại hóa, đứng trước xung đột "cần dẹp bỏ di tích để khai thác kinh tế".
Làn sóng đó và những mâu thuẫn đã tồn tại nhiều năm. Vấn đề là, có phải bảo tồn và phát triển luôn xung đột nhau hay không? Quan niệm đó theo tôi là không đúng.
"Giá trị về giáo dục là vô giá, không thể tính bằng tiền"
Bà có những góp ý, giải pháp nào để hóa giải xung đột giữa phát triển kinh tế và bảo tồn di sản văn hóa?
- Nhiều người muốn phát triển kinh tế, tăng trưởng đồng tiền thật nhanh, thu về tiền tỷ. Nhưng tôi quan niệm rằng, nếu làm điều gì mà đạt hai kết quả vẫn tốt hơn chỉ có một.
Thực tiễn chứng minh, nếu biết cách giải quyết, chúng ta vẫn có thể phát triển kinh tế nhưng vẫn giữ được các di sản văn hóa. Bảo tồn đâu có nghĩa là giữ khư khư những gì cũ kỹ để rồi cản trở sự đi lên của kinh tế. Để bảo tồn, chúng ta cần sáng tạo cái mới. Sự sáng tạo đó cũng là phát triển.
Ví dụ như trường hợp của di tích lịch sử Bót Catinat. Nếu phá bỏ công trình này để phát triển thương mại có thể mang về lợi nhuận hàng nghìn tỷ đồng. Nhưng giữ lại công trình này, kinh tế chỉ thu được bằng 1/10, 1/100 thôi, song chúng ta sẽ giữ được giá trị văn hóa lịch sử.
Khi giữ được giá trị văn hóa lịch sử, chúng ta sẽ giáo dục cho thế hệ sau về những gì ông cha để lại. Giá trị về giáo dục là vô giá, không thể tính bằng tiền. Khi con người có nền tảng giáo dục và văn hóa, con người sẽ tiếp tục tạo ra kinh tế.

Bà Lê Tú Cẩm tại Hội thảo khoa học "Di tích lịch sử Bót Catinat" do Sở Văn hóa và Thể thao TPHCM tổ chức hồi tháng 9 (Ảnh: Bích Phương).
Việc thương mại hoá di sản đôi khi dẫn đến biến tướng hoặc làm phai nhạt giá trị di sản. Theo bà, đâu là ranh giới giữa khai thác hợp lý và khai thác quá mức?
- Những mô hình vừa giữ di sản, vừa khai thác hiệu quả kinh tế có rồi đấy chứ. Vấn đề là các sở ngành, Nhà nước phải ghi nhận những mô hình đó. Ví dụ như địa đạo Củ Chi, hay như di tích Nhà tù Hỏa Lò ở Hà Nội. Cần có những hội nghị để giới trong ngành bàn bạc, khẳng định và phát huy những mô hình đó.

TPHCM đặt mục tiêu đưa địa đạo Củ Chi trở thành di sản được UNESCO công nhận là Di sản thế giới (Ảnh: Thúy Hường).
Việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa đòi hỏi nguồn lực lớn, tiêu tốn nhiều ngân sách và khó thu hút tư nhân tham gia. Theo bà, điểm nghẽn của các cơ chế tài chính trong ngành là gì?
- Nhiều cơ sở vật chất do Nhà nước đầu tư, nhưng không có cơ chế cụ thể để tư nhân hợp tác. Mô hình hợp tác công - tư vốn là giải pháp để huy động nguồn lực xã hội, nhưng hợp tác công - tư ở lĩnh vực văn hóa, di sản văn hóa như thế nào? Hướng đi này chưa có cơ chế, chính sách phù hợp, mà chỉ toàn ràng buộc.
Đừng nói đâu xa, Bảo tàng Tôn Đức Thắng (ở TPHCM - PV) đầu năm nay được xây dựng mới rất đẹp, nhưng tư nhân muốn hợp tác đầu tư cùng bảo tàng rất khó khăn.
"Giữ di sản không chỉ là để nguyên, phủi bụi cho sạch"
Khi di sản văn hóa tham gia vào chuỗi sáng tạo, tạo nên những giá trị mới cho nền công nghiệp văn hóa, vấn đề quyền lợi công bằng của chủ thể di sản nên được nhìn nhận thế nào, thưa bà?
- Trước đây, bảo tồn di sản là cuộc chiến, là sự cạnh tranh không cân sức. Chúng tôi ra rả thuyết minh, mang chữ nghĩa kêu gọi giữ lấy di sản, còn những người làm kinh tế dùng sức mạnh đồng tiền. Lúc đó, họ nghĩ ngành di sản văn hóa là ngành chỉ biết xài tiền Nhà nước.
Thời nay, nếu biết khai thác, di sản văn hóa chính là tài nguyên của ngành công nghiệp văn hóa. Khi chúng ta bảo tồn, phát huy được giá trị di sản văn hóa rồi, thì phải đặt ra vấn đề khác: Những giá trị đó thuộc về ai? Quyền tác giả, quyền sở hữu sản phẩm cuối cùng thuộc về ai?
Tôi cho rằng bảo tồn di sản văn hóa là chuỗi công việc của rất nhiều đơn vị. Khi đơn vị này với đơn vị kia hợp tác tạo nên sản phẩm cuối cùng, Nhà nước vẫn cần có thể chế để các bên đều có lợi, bình đẳng như nhau.

Nghệ nhân biểu diễn cồng chiêng kết hợp múa dân gian, giới thiệu văn hóa đặc trưng vùng Tây Nguyên tại Festival Thăng Long - Hà Nội 2025 (Ảnh: Lê Phương Anh).
Như vậy, sự chung tay của cả cộng đồng và các bên liên quan là yếu tố then chốt để bảo tồn, phát huy giá trị di sản một cách bền vững?
- Đúng vậy! Phải quan tâm lợi ích xứng đáng của những cá nhân, tổ chức giữ gìn di sản.
Thí dụ, các bảo tàng giữ rất nhiều nguồn tài nguyên. Người ta thường đến bảo tàng tìm chất liệu, cảm hứng, ý tưởng. Nhưng bảo tàng đâu phải kho lưu trữ, đâu chỉ là trả công người lưu trữ vài trăm nghìn đồng, vài triệu đồng?
Cần phải có thể chế, chính sách để các ngành khác trả quyền lợi tương ứng, có cơ chế hợp tác xứng đáng.
Theo bà, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo đã giúp di sản văn hóa đến gần giới trẻ thế nào?
- Công nghệ, kỹ thuật số đã hỗ trợ rất nhiều. Hệ thống lưu trữ, bảo tàng, di tích, các cơ quan quản lý đều chủ động ứng dụng công nghệ để gìn giữ những giá trị văn hóa, lịch sử và đưa đến gần hơn với công chúng hiện đại.
Các bạn trẻ bây giờ cũng rất sáng tạo, biết áp dụng công nghệ để đưa di sản đến gần hơn với thế hệ của mình. Người lớn cũng nên hiểu cách làm, cách nghĩ của giới trẻ. Thí dụ, muốn bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể hát bội, không có nghĩa là chúng ta bắt các bạn trẻ đến nhà hát xem hết một vở tuồng. Bây giờ giới trẻ có nhiều cách tiếp cận với những giá trị truyền thống.
Như chương trình truyền hình như Anh trai vượt ngàn chông gai, những tiết mục lấy cảm hứng từ nghệ thuật chèo truyền thống là cách làm hay, giúp người trẻ hiểu hơn về di sản văn hóa phi vật thể của cha ông.
Giữ di sản không chỉ là để nguyên, phủi bụi cho sạch, mà làm sao để di sản càng ngày càng sinh động, làm sao để hồn cốt không đổi mà biến hóa để đi vào công chúng.

Một hoạt động kỷ niệm Ngày Di sản văn hóa Việt Nam lần thứ 10 năm 2024 thu hút sự quan tâm của đông đảo người trẻ ở TPHCM (Ảnh: Thúy Hường).
Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 2486/QĐ-TTg ngày 14/11, phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Nhìn ra bức tranh tương lai, bà trăn trở điều gì để ngành công nghiệp văn hóa phát triển?
- Ngành công nghiệp văn hóa vẫn là ngành công nghiệp non trẻ. Công nghiệp nghĩa là có những quy trình công nghệ, nhưng sản phẩm văn hóa mang đặc thù, chứa những giá trị vô hình.
Văn hóa cung cấp giá trị cốt lõi, từ đó các ngành này có thể phát triển sản phẩm và dịch vụ. Giá trị của sản phẩm văn hóa không thể tính về mặt kinh tế như những ngành khác. Do đó, để ngành công nghiệp văn hóa phát triển, thì Nhà nước cần thể chế hóa, làm sao cho những điều mang tính đặc thù của ngành văn hóa được phát triển theo đúng đặc thù, thể hiện được hết giá trị. Để những ngành khác không dò xét, so sánh, áp đặt công nghiệp văn hóa đi theo con đường những ngành kinh tế khác.
Tại Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, một điểm nhấn về tư tưởng, chiến lược lâu dài được xác lập rõ ràng: Văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực, sức mạnh nội sinh và là động lực to lớn, hệ điều tiết sự phát triển xã hội bền vững; xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Bà nhìn nhận thế nào về quan điểm này?
- Nhắc đến văn hóa là nhắc đến nghệ thuật, nhắc đến đời sống "ăn ngon, mặc đẹp" của người dân. Sâu xa hơn, văn hóa gắn với con người, góp phần thiết thực vào việc định hình phát triển giáo dục nhân cách.
Văn hóa là chủ lực, là động lực phát triển xã hội, nhưng để làm được việc này, một mình văn hóa không làm nổi. Điều định hình nên tư duy, tính cách của con người là quá trình học tập, lao động, làm việc, tiếp xúc trong xã hội.
Do đó, chúng ta cần có sự đồng bộ trong mọi ngành công nghiệp, để sản xuất hay làm gì, cũng cần phải nghĩ đến tiêu chuẩn đầu tiên: Điều đó có góp phần hình thành phát triển con người không?
Ở lĩnh vực văn hóa, con người Việt Nam trước hết vẫn phải giữ được cái cũ, cái chất Việt Nam, rồi mới có thể bước vào kỷ nguyên mới được.
Cảm ơn bà vì những chia sẻ!






















