Chuyện chưa kể về hai vị tướng lừng danh được Bác Hồ đặt tên
(Dân trí) - Đại diện gia đình hai vị tướng đã chia sẻ những điều đầy ý nghĩa và xúc động phía sau việc Bác Hồ đặt tên cho hai vị tướng Nguyễn Chí Thanh và Trần Đại Nghĩa.
Nhân dịp kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2026), báo Dân trí trân trọng giới thiệu tới quý độc giả loạt bài viết, câu chuyện và ký ức xúc động, qua lời kể của những nhân chứng lịch sử, những người từng may mắn được gặp Bác, sống và làm việc bên Người trong những năm tháng kháng chiến gian khổ.
Qua lời kể của họ, hình ảnh Bác Hồ hiện lên chân thực, gần gũi và đầy nhân văn.
Mỗi câu chuyện đều là nguồn cảm hứng, là bài học quý giá về lòng yêu nước, đức hy sinh và tinh thần nhân văn cao cả của Người để lại cho thế hệ hôm nay.
Bác Hồ thường đặt tên mới cho những học trò, cận vệ và cán bộ thân cận để thể hiện sự tin tưởng, kỳ vọng, gửi gắm lý tưởng đồng thời nhằm bảo mật thông tin, bảo đảm an toàn cho mỗi cá nhân trong quá trình hoạt động cách mạng.
Hai trong số rất nhiều anh hùng, tướng tài được Người đặt tên là Đại tướng Nguyễn Chí Thanh và GS Viện sĩ, Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa. Mỗi người có cơ duyên gặp gỡ riêng với vị lãnh tụ thiên tài nhưng đều có một cuộc đời rực rỡ, sống đúng với kỳ vọng mà Người gửi gắm qua mỗi cái tên.
"Nguyễn Chí Thanh - người thật thà, gan góc và kiên quyết"
Trao đổi với phóng viên Dân trí, lãnh đạo Bảo tàng Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (81 Tân Nhuệ, Đông Ngạc, Hà Nội) chia sẻ, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tên thật là Nguyễn Vịnh (sinh năm 1914, quê gốc ở huyện Quảng Điền cũ, tỉnh Thừa Thiên Huế).
Trong suốt 22 năm, kể từ lần đầu tiên gặp Bác Hồ vào năm 1945 cho đến khi Đại tướng qua đời vào năm 1967, ông được làm việc gần gũi, tháp tùng Bác trong nhiều sự kiện chính trị quan trọng cả trong và ngoài nước.
Sớm giác ngộ cách mạng, chàng thanh niên Nguyễn Vịnh với tính tình cương trực, gan góc, là Bí thư đầu tiên của Tỉnh ủy Thừa Thiên khi mới 24 tuổi và sớm trở thành trụ cột quan trọng của phong trào miền Trung.
Cuối tháng 7/1945, từ miền Trung, Nguyễn Vịnh ra Bắc để tham dự Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào. Trước ngày diễn ra hội nghị, Nguyễn Vịnh được hai anh Hoàng Quốc Việt và Trường Chinh dẫn đến gặp lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia III).
Lần đầu gặp gỡ ấy để lại trong Nguyễn Vịnh ấn tượng sâu sắc bởi được nghe về lãnh tụ đã lâu, nhưng khi gặp mặt, chàng thanh niên lại càng cảm nhận rõ về tầm cao trí tuệ, tư duy và ấn tượng về cách ứng xử dung dị của Người.
Sau lần gặp gỡ này và sau khi Hội nghị toàn quốc của Đảng bế mạc, Nguyễn Vịnh được Bác Hồ đặt cho một cái tên mới: Nguyễn Chí Thành. Câu chuyện Bác Hồ đặt tên này cũng ẩn chứa nhiều điều thú vị và ý nghĩa.
Ngày ấy, khi bàn về thành phần tham gia Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam, Bác chưa muốn công khai tên các đồng chí chủ chốt bởi lo lắng “tiến không sao nhưng thoái thì thế nào”.
Bởi vậy, Người giao cho đồng chí Trường Chinh và Hoàng Quốc Việt đặt tên mới cho Nguyễn Vịnh nhưng cuối cùng lại chủ động chọn tên Nguyễn Chí Thành (với ý nghĩa có chí sẽ thành công) để đưa vào danh sách khi công bố.
“Phần vì giữ bí mật, phần do tình hình khẩn trương nên Thường vụ quyết định ngay theo ý kiến chỉ đạo của Bác, bản thân Nguyễn Vịnh cũng không biết việc này”, đồng chí Hoàng Quốc Việt chia sẻ trong một tư liệu.
Khi Ủy ban Giải phóng Dân tộc Việt Nam chính thức ra mắt, nghe có tên Nguyễn Chí Thành trong danh sách Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nguyễn Vịnh quay sang hỏi đồng chí Phạm Văn Đồng ngồi bên cạnh: “Nguyễn Chí Thành là ai đấy anh?”.
Đồng chí Phạm Văn Đồng mỉm cười trả lời: “Là anh chứ ai nữa, chính Bác đặt tên cho anh cái tên mới để giữ bí mật và cũng có nhiều ý nghĩa”.
Nguyễn Vịnh vừa ngỡ ngàng, vừa sung sướng.
Song không lâu sau đó, anh cũng báo cáo xin phép Bác Hồ được bỏ dấu huyền, vì trong họ nhà mình có người tên Thành, theo phong tục Huế, kiêng lấy tên người bề trên đặt cho người nhỏ tuổi hơn.
Ngoài ra, cũng vì còn lý do trùng với tên đồng chí Nguyễn Kim Thành (nhà thơ Tố Hữu) - người giữ trọng trách Chủ tịch chính quyền nhân dân ở Huế. Và từ đó Nguyễn Vịnh gắn với cái tên Nguyễn Chí Thanh.
Trong suốt cuộc đời làm cách mạng, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh được Bác Hồ tin cậy giao phụ trách nhiều nhiệm vụ, ở nhiều lĩnh vực quan trọng của đất nước và quân đội. Những ngày đầu lập nước, ông được giao đứng đầu dải đất miền Trung, bám dân, bám đất trụ vững cùng Bình - Trị - Thiên khói lửa.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh trong chuyến thăm Tiệp Khắc (Ảnh: Gia đình cung cấp).
Năm 1950, Nguyễn Chí Thanh được Chủ tịch Hồ Chí Minh bổ nhiệm giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội quốc gia và dân quân Việt Nam.
Ông đã trực tiếp tham gia lãnh đạo lực lượng vũ trang (LLVT) nhân dân, xây dựng sức mạnh về chính trị, thực hiện quyết tâm chiến lược của Đảng, tạo bước phát triển mới về sức mạnh chiến đấu của các LLVT, đáp ứng yêu cầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ.
Hòa bình lập lại năm 1954, với nhiều đóng góp trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng Quân đội, ông tiếp tục được giao nhiệm vụ xây dựng miền Bắc thành hậu phương lớn, sẵn sàng chi viện miền Nam... Giữa năm 1964, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân bước vào thời điểm bước ngoặt, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã được Bộ chính trị và Bác Hồ cử vào miền Nam để tìm phương án đánh Mỹ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh dự Hội nghị Quân chính Toàn quân lần thứ nhất, Hà Nội năm 1960 (Ảnh: Tư liệu Bảo tàng Lịch sử Quốc gia).
Tìm cách đánh Mỹ và thắng Mỹ là lời hứa của Đại tướng với Bác Hồ và cũng là ước mơ của ông: “Tổng kết thắng Mỹ phải viết được như bản Đại cáo bình Ngô năm xưa, lấy tên là Bình Mỹ đại cáo”.
Tiễn đoàn cán bộ lên đường vào Nam chiến đấu, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Thiếu tướng Lê Trọng Tấn và những đồng chí cùng đi: “Đánh Pháp đã khó, đánh Mỹ càng khó hơn. Đảng và Chính phủ giao cho các chú vào trong đó cùng với đồng bào Miền Nam đánh Mỹ cho kỳ được thắng lợi. Gặp đồng bào thì nói: Bác Hồ luôn luôn nghĩ đến đồng bào Miền Nam”.

Lãnh đạo Bảo tàng Đại tướng Nguyễn Chí Thanh chia sẻ về cuộc đời hoạt động cách mạng của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (Ảnh: Nguyễn Ngoan).
Trên cương vị người lãnh đạo cao nhất tại chiến trường, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đi sâu nghiên cứu, phát hiện sớm việc chuyển chiến lược của Mỹ để Trung ương có điều chỉnh chiến lược phù hợp.
Ông đã phát huy năng lực, kết hợp nhuần nhuyễn tư tưởng chính trị và quân sự, quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ ngay tại chiến trường miền Nam. Ông nhận ra, điểm yếu chí mạng của quân đội Mỹ là khi chúng ta sử dụng nghệ thuật tác chiến với lối đánh áp sát, bám chặt thì các loại vũ khí, phương tiện hiện đại không phát huy được tính năng kỹ thuật, chiến thuật.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, tại căn cứ Sở chỉ huy ở miền Nam, tháng 3/1965 (Ảnh: Tư liệu Bảo tàng Lịch sử Quốc gia).
Trên cơ sở đó, Đại tướng đưa ra chiến thuật “nắm thắt lưng địch mà đánh”, áp sát, đánh địch ở khoảng cách gần, làm cho địch không thể phát huy ưu thế hỏa lực không quân, pháo binh. Nắm vững và vận dụng sáng tạo nghệ thuật tác chiến quân sự này, quân đội và nhân dân ta trên các chiến trường đã lập nên nhiều chiến công to lớn để tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Bức tượng đồng, minh họa hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh lúc sinh thời (Ảnh: Nguyễn Ngoan). (Ảnh: Nguyễn Ngoan).
Bác Hồ lúc sinh đã nhận xét về về Đại tướng Nguyễn Chí Thanh rằng: "Chú Thanh là một người thật thà, gan góc và kiên quyết".
Còn đối với Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, dù đã biết lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc qua những bài báo khi bắt đầu đến với chủ nghĩa cộng sản, nhưng ngay từ những ngày đầu được gặp Bác, ông đã thấy người có một sức hút kỳ diệu.
Ông đã trở thành người học trò xuất sắc của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, gắn liền với những chiến công vẻ vang của dân tộc trong thời đại Hồ Chí Minh.
Chàng Việt kiều Pháp và việc đại nghĩa Bác giao
Trước khi gặp Bác Hồ năm 1946, Phạm Quang Lễ là một đại trí thức ở Paris (Pháp), sở hữu 4 bằng đại học, biết 5 thứ tiếng (Pháp, Đức, Anh, Nga, Trung Quốc), đang làm công việc mức lương 5.500 franc/tháng (22 lượng vàng) ở châu Âu.
Tuy nhiên, sau cuộc gặp với Bác Hồ và câu nói: "Bác sắp về nước, chú chuẩn bị để vài ngày nữa chúng ta lên đường. Chú đã sẵn sàng được chưa?", chàng Việt kiều không mất giây nào suy nghĩ mà khẳng định nguyện một lòng theo chân Bác làm cách mạng.
Từ bỏ cuộc sống nhung lụa ở trời Âu, Phạm Quang Lễ về nước, sống một cuộc đời mới đầy gian khó nhưng vẻ vang.
Chia sẻ trong hồi ký của mình, GS Viện sĩ Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa (1913-1997) kể rằng, đến trước 7h sáng ngày 5/12/1946, tên ông vẫn là Phạm Quang Lễ.
Tuy nhiên, sau cuộc gặp gỡ với Bác Hồ ở Bắc Bộ phủ, ông được Người đặt cho một tên gọi mới - Trần Đại Nghĩa. Cái tên gắn liền với một nhiệm vụ cao cả phục vụ cho mục tiêu giải phóng dân tộc, chiến thắng mọi kẻ địch, thống nhất đất nước.
Theo đó, trong cuộc gặp gỡ sáng 5/12/1946, Bác Hồ quyết định giao chàng thanh niên yêu nước quê Vĩnh Long Phạm Quang Lễ làm Cục trưởng Cục Quân giới và nhiệm vụ chuẩn bị vũ khí chiến đấu cho bộ đội.
Theo Bác, đây là việc đại nghĩa nên Bác đặt cho Phạm Quang Lễ tên mới là Trần Đại Nghĩa. Bác cũng mong tên gọi này sẽ đủ bảo mật và giữ an toàn cho bà con thân thuộc của Phạm Quang Lễ ở trong miền Nam.

GS Trần Đại Nghĩa (hàng thứ nhất, vị trí thứ hai từ trái qua, đeo kính) cùng đoàn đại biểu quân đội chúc thọ tuổi 60 Chủ tịch Hồ Chí Minh (Ảnh: Chụp lại tư liệu).
Đúng như kỳ vọng của Bác Hồ, Trần Đại Nghĩa sau này trở thành một nhà khoa học lớn của cách mạng, người được mệnh danh là “ông vua vũ khí Việt Nam”, “ông Phật làm súng”… có nhiều đóng góp cho công cuộc giải phóng, thống nhất đất nước.
Theo Đại tá Trần Dũng Trí - con trai GS Trần Đại Nghĩa - sinh thời, cha ông tâm sự rằng, Bác Hồ là người thầy vĩ đại, có ảnh hưởng đến cuộc sống và cống hiến của ông.
Cha ông sang Pháp năm 1935 để thực hiện hoài bão “chế tạo vũ khí đánh Tây”. Tại Pháp, khoa học quân sự là lĩnh vực bí mật và cấm tuyệt đối với người dân các nước thuộc địa, chỉ cần để lộ ra ý định này, ông sẽ bị trục xuất ngay khỏi nước Pháp.
Chính vì vậy, suốt 11 năm, Trần Đại Nghĩa chỉ còn cách âm thầm, bí mật học tập về vũ khí thông qua nhiều cách, từ làm quen với thủ thư người Pháp, ngày đêm ghi chép, tự học tiếng Đức siêu tốc, làm việc ở nhà máy chế tạo máy bay, nghiên cứu Chiến tranh thế giới thứ II.... Với quyết tâm cao, ông đã đạt được mục đích, chuẩn bị 1 tấn tài liệu cho công việc sau này.
Đầu tháng 9/1946, một trong những “tin mừng lớn nhất trong đời” ông đã đến: “Bác cho phép theo Bác về nước phục vụ cùng 3 anh em khác”.
Hơn một tháng lênh đênh trên mặt biển, chàng “Việt kiều Pháp” được tham gia lớp chính trị do Bác Hồ phụ trách. Ông hiểu dễ dàng và thấm thía rất lâu những lời của Bác - những lời đã ăn sâu trong cả khối óc và trái tim ông suốt cuộc đời.
“Ngay các câu hỏi thân mật của Bác đặt ra để xem chúng tôi thu nhận tới mức nào, để sửa chữa những lệch lạc cho chúng tôi càng lộ rõ lòng thương yêu đối với những cán bộ trẻ chưa có kinh nghiệm, làm cho chúng tôi vô cùng cảm động và nhớ mãi mãi”, GS Trần Đại Nghĩa viết trong hồi ký.
Về phần Bác Hồ, Người dành nhiều lời khen ngợi cho “chàng Việt kiều Pháp” khi “có công to trong việc xây dựng quân giới, luôn luôn gần gũi, giúp đỡ, dạy bảo và học hỏi anh em công nhân”.

Theo GS Trần Đại Nghĩa, ông thường được Bác Hồ đóng góp cho nhiều ý kiến quý giá dù ở bất cứ cương vị nào (Ảnh: Tư liệu).
Trong bài đăng trên báo Nhân dân ngày 12/6/1952, Bác viết: “Là một đại trí thức, đi học ở châu Âu đã nhiều năm, mang một lòng nhiệt tình về phụng sự Tổ quốc, phục vụ kháng chiến, đó là Anh hùng Lao động trí óc Trần Đại Nghĩa”.
Bác kể, khi kỹ sư Nghĩa mới về, Bác có dặn rằng: “Nước ta thiếu máy móc, thiếu nguyên liệu, thiếu thợ lành nghề. Song giàu về rừng núi, giàu về quyết tâm. Vậy chú phải đưa những cái đã học được ở nước ngoài mà áp dụng vào hoàn cảnh thiết thực ở nước ta, để phụng sự Tổ quốc...”.
Bác khen kỹ sư Nghĩa đã làm đúng lời hứa, khắc phục mọi khó khăn, đào tạo nhiều cán bộ, đưa những học thức rộng rãi ở châu Âu áp dụng vào điều kiện eo hẹp của nước ta. Đồng chí Nghĩa giỏi về khoa học máy, nhưng lúc thực hành thì không “máy móc”.
Trong hai cuộc kháng chiến, GS Trần Đại Nghĩa đã sáng chế và cải tiến nhiều loại vũ khí chiến đấu giúp bộ đội làm rung chuyển chiến trường. Đó là những sản phẩm nổi tiếng trong lịch sử kháng chiến như đạn bazooka; SKZ (đại bác không giật) xuyên được bê tông cốt thép dày 60cm, dày hơn các pháo đài của Pháp; các loại bom bay có sức công phá mạnh…
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, GS Trần Đại Nghĩa đã góp phần to lớn trong cuộc chiến chống máy bay B52, phá hệ thống thủy lôi của địch và chế tạo những trang thiết bị đặc biệt cho bộ đội đặc công.
Khi có con, vợ chồng GS Trần Đại Nghĩa vẫn thống nhất vẫn để con mang họ Trần - họ mà Bác Hồ đã đặt cho GS Trần Đại Nghĩa.

Con trai GS Trần Đại Nghĩa cho hay, gia đình ông sau này vẫn lấy tên theo họ Trần Bác Hồ đã đặt cho cha ông (Ảnh: Nguyễn Hà Nam).
Theo Đại tá Trần Dũng Trí, sau này khi các anh em ông hỏi về việc đặt tên, mẹ của ông có tâm sự rằng: "Mẹ nghĩ Bác Hồ đã đặt tên cho ba các con là họ Trần thì các con cũng lấy họ Trần, các cháu cũng lấy họ Trần để nối tiếp sự nghiệp của cha".
Các em ông sau này lần lượt có tên là: Trần Dũng Triệu, Trần Dũng Trình, Trần Dũng Trọng, các con và các cháu vì thế đều mang họ Trần.
Sau này, mỗi năm đến ngày sinh nhật Bác Hồ hay Quốc khánh mùng 2/9, GS Trần Đại Nghĩa luôn có những bài viết sâu sắc, những chia sẻ đầy xúc động về người thầy lớn nhất đời mình. Trong bài viết kỷ niệm 98 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông tâm sự rằng: “Tôi đời đời biết ơn Bác Hồ vĩ đại muôn vàn kính yêu đã cảm hóa và giáo dục tôi. Hình ảnh Bác Hồ hàng ngày và mãi mãi in sâu trong trái tim tôi”.
Có thể nói Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rèn luyện, dìu dắt nhiều thế hệ cách mạng trung kiên, trong đó có những học trò kiệt xuất, những anh hùng đi vào lịch sử.
Những học trò như Trần Đại Nghĩa, Nguyễn Chí Thanh dù ở vị trí, nhiệm vụ nào cũng thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Người để thực hiện lý tưởng cách mạng, đóng góp to lớn trong sự nghiệp giải phóng và xây dựng đất nước.











