Thứ ba, 07/01/2020 - 14:28

Tiêu chuẩn về nơi bảo quản tài liệu bí mật nhà nước trong Công an nhân dân

Dân trí

Nơi lưu giữ, bảo quản tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước phải được xây dựng kiên cố; cửa ra vào phải có khóa bảo vệ chắc chắn, trang bị phương tiện phòng chống cháy, nổ, đột nhập,...

Theo dự thảo lần 2 Thông tư quy định về công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong lực lượng Công an nhân dân vừa được Bộ Công an đưa ra lấy ý kiến rộng rãi, người đứng đầu đơn vị Công an nhân dân có trách nhiệm xác định bí mật nhà nước, độ mật của bí mật nhà nước, nơi nhận, số lượng bản phát hành, được phép hoặc không được phép sao, chụp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước.

Việc xác định bí mật nhà nước và độ mật của bí mật nhà nước phải căn cứ vào danh mục bí mật nhà nước trong lĩnh vực an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và danh mục bí mật nhà nước theo các lĩnh vực quy định tại Luật Bảo vệ bí mật nhà nước.

Tiêu chuẩn về nơi bảo quản tài liệu bí mật nhà nước trong Công an nhân dân - 1

(Ảnh minh họa).

Hình thức sao tài liệu bí mật nhà nước gồm sao y bản chính, sao lục và trích sao. Người có thẩm quyền cho phép sao, chụp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước độ Tuyệt mật gồm: Bộ trưởng Bộ Công an; Cục trưởng các Cục trực thuộc Bộ, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Cảnh vệ, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động, Chánh Văn phòng Bộ Công an, Chánh Thanh tra Bộ Công an, Chánh Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an, Viện trưởng Viện Khoa học hình sự, Viện trưởng Viện Khoa học và Công nghệ, Giám đốc các Học viện và Hiệu trưởng các trường Đại học Công an nhân dân; Giám đốc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Người có thẩm quyền cho phép sao, chụp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước độ Tối mật gồm những người trên và Hiệu trưởng các trường Cao đẳng Công an nhân dân; Giám đốc các Bệnh viện thuộc Bộ Công an.

Thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước

Theo dự thảo thông tư, tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước được lưu giữ theo hồ sơ chuyên đề, đối tượng, lĩnh vực, có bảng thống kê chi tiết kèm theo, phải được bảo vệ bằng biện pháp thích hợp, bảo đảm an toàn do người đứng đầu đơn vị Công an nhân dân quy định.

Hàng năm, các đơn vị Công an nhân dân phải thống kê tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đã tiếp nhận, phát hành theo trình tự thời gian và từng độ mật.

Nơi lưu giữ, bảo quản tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước phải được xây dựng kiên cố, cửa ra, vào phải có khóa bảo vệ chắc chắn, trang bị phương tiện phòng, chống cháy, nổ, đột nhập, lấy cắp bí mật nhà nước.

Bộ Công an đề xuất thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước là khoảng thời gian được tính từ ngày xác định độ mật của bí mật nhà nước đến hết thời hạn: 30 năm đối với bí mật nhà nước độ Tuyệt mật; 20 năm đối với bí mật nhà nước độ Tối mật; 10 năm đối với bí mật nhà nước độ Mật.

Thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước về hoạt động có thể ngắn hơn và phải xác định cụ thể tại tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước khi xác định độ mật. Thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước về địa điểm kết thúc khi đơn vị Công an nhân dân có thẩm quyền không sử dụng địa điểm đó để chứa bí mật nhà nước.

Cung cấp bí mật nhà nước cho cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài

Theo dự thảo thông tư, thẩm quyền quyết định việc cung cấp, chuyển giao bí mật nhà nước cho cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài được quy định như sau: Thủ tướng Chính phủ quyết định cung cấp, chuyển giao bí mật nhà nước độ Tuyệt mật; Bộ trưởng Bộ Công an quyết định cung cấp, chuyển giao bí mật nhà nước độ Tối mật, độ Mật thuộc phạm vi quản lý.

Bí mật nhà nước chỉ được cung cấp, chuyển giao cho cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia vào chương trình hợp tác quốc tế hoặc thi hành công vụ có liên quan đến bí mật nhà nước.

Cơ quan, tổ chức nước ngoài đề nghị cung cấp, chuyển giao bí mật nhà nước phải có văn bản gửi đơn vị trong Công an nhân dân chủ trì chương trình hợp tác quốc tế hoặc thi hành công vụ có liên quan đến bí mật nhà nước. Văn bản đề nghị phải ghi rõ tên cơ quan, tổ chức, người đại diện cơ quan, tổ chức; quốc tịch, số Hộ chiếu, chức vụ của người đại diện; bí mật nhà nước đề nghị cung cấp, chuyển giao; mục đích sử dụng, cam kết bảo vệ bí mật nhà nước và không cung cấp, chuyển giao cho bên thứ ba nếu không có sự đồng ý của bên cung cấp, chuyển giao…

Thế Kha