Chủ nhật, 21/10/2007 - 09:13

Che Guevara: Anh hùng và huyền thoại

Dân trí Cách đây 40 năm - ngày 9/10/1967, người dân châu Mỹ Latinh và những người yêu chuộng hoà bình trên thế giới phải chia tay với một người con ưu tú, một vị anh hùng vĩ đại, một huyền thoại của thế kỷ 20: Che Guevara. Có anh, thời đại đã mang một dấu ấn đặc biệt: Dấu ấn Che Guevara.

40 năm đã qua, nhưng giờ đây ở Cuba và các nước Mỹ Latinh, người dân vẫn còn gọi Emesto Che Guevara là “Hiệp sĩ của cách mạng châu Mỹ Latinh” bởi lẽ, sự nghiệp và sự hy sinh của Che không chỉ được nhân dân kính trọng mà cả kẻ thù cũng phải thán phục. Cùng với năm tháng, cuộc đời và tấm gương hy sinh quên mình vì những lý tưởng cao đẹp của Che càng trở nên toả sáng và trở thành biểu tượng của Chủ nghĩa anh hùng cách mạng, một hình ảnh lãng mạn, thấm đẫm tính nhân văn cao cả.

 

Làm cách mạng

 

Che Guevara sinh ngày 14/6/1928, ở thành phố Roserio của Argentina. Ngay từ hồi còn bé, ông đã nhận thức rằng, mỗi người đàn ông sinh ra, trong cuộc đời đều có cuộc chiến tranh của mình. Ông đã phát hiện kẻ thù rất sớm, không phải kẻ thù bên ngoài mà kẻ thù bên trong người mình, đó là căn bệnh hen suyễn. Che đã tuyên chiến với căn bệnh này và đã bắt đầu tập luyện các môn thể thao mà thường thì người ta cấm những người mắc bệnh hen suyễn tập như: Bóng đá, chạy, quần vợt, chơi gôn, bơi lội, đấu kiếm, leo núi, võ thuật, bóng chuyền, bóng rổ, bơi thuyền... Sự can đảm, coi khinh cái chết đã xuất hiện ở ông từ khi còn là cậu bé.

 

Trong cuộc đời ngắn ngủi của mình, Che Guevara đã làm hầu như tất cả những công việc mà người đàn ông có thể làm. Là người con trai trong gia đình, người chiến sĩ, người chỉ huy, người lãnh đạo Nhà nước, nhà báo, nhiếp ảnh, nhà văn, nhà thơ, thuỷ thủ, lái xe, kỹ sư chế tạo máy, nhân viên trạm bán xăng dầu, giáo viên, nhà nghiên cứu, cán bộ khoa học, người cộng sản, nhà ngoại giao, chủ ngân hàng, nhà tu hành khổ hạnh, bác sĩ, nhà khảo cổ, nhà dân tộc học, báo cáo viên trước Liên Hợp Quốc, một tù nhân... nên mọi người gọi Che là “đứa con yêu thương của vũ trụ”.

 

Để đi tìm sự thật và đấu tranh cho công lý, Che Guevara đã thực hiện các chuyến đi đến các nước châu Mỹ Latinh. Đâu đâu ông cũng chứng kiến nhiều cảnh bất công. Che đi Mỹ, thấy bên cạnh cuộc sống xa hoa của những triệu phú Mỹ trong những khách sạn, bãi tắm, hiệu cà phê, nhà hàng là những đám người da màu cực khổ. Để đảm bảo cho cuộc sống đế vương của hàng chục triệu người Mỹ giàu có, bọn tư bản dùng sức mạnh các cơ quan mật vụ, đàn áp và cướp bóc hàng trăm triệu người nghèo khó khác ở nước Mỹ và ở các nước khác thuộc châu Mỹ La tinh. Che cho rằng nhiệm vụ là phải biến họ thành những người với vũ khí trong tay tự giải phóng mình. “Không có vũ khí thì không làm được gì”. Suy nghĩ này của Che được Fidel Castro khẳng định trong cuộc gặp gỡ mong đợi từ lâu của Che với Fidel Castro diễn ngày 9/7/1955.

 

Năm 1956, Che tham gia cuộc đấu tranh của cách mạng Cuba do Fidel Castro lãnh đạo đánh đổ chế độ độc tài Batixta. Năm 1959, sau khi cách mạng thành công, Che được nhập quốc tịch Cuba vì những cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của nước này. Che từng đảm đương nhiều trọng trách trong Chính phủ cách mạng Cuba.

 

Trong thời gian đấu tranh vũ trang với chế độ Batixta, Che Guevara đã trở thành giáo sư về khoa học chiến tranh du kích, được công nhận là tướng soái... Nhưng có điều quan trọng hơn là trong cuộc chiến tranh này, ông nhận thức được giá trị mang tính quyết định là yếu tố con người. Từ đây Che Guevara đi đến kết luận: “Mọi việc bắt đầu từ con người và do con người kết thúc”.

 

Trong những thắng lợi của đội quân du kích Fidel Castro có sự đóng góp rất lớn của Che. Cống hiến chính của Che là thực hiện cải cách ruộng đất ở các vùng du kích chiếm giữ được, đưa nông dân vào đội quân cách mạng và thiết lập pháp chế ở các vùng do ông cai quản với tư cách là chỉ huy, ngăn chặn cướp bóc và quậy phá. Chính vì vậy sau khi cách mạng thành công, ông được ủy nhiệm lãnh đạo các ngành nông nghiệp và ngân hàng, rồi sau đó công nghiệp...

 

Năm 1965, ông rời Cuba, tham gia các phong trào cách mạng tại châu Phi. Sau đó, năm 1966, Che đến Bôlivia để lãnh đạo cuộc chiến tranh du kích ở nước này nhằm lật đổ chế độ độc tài quân sự. Sau một trận đánh ác liệt, Che bị thương và bị lực lượng đặc biệt của chế độ độc tài Bolivia dưới sự chỉ huy của Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) bắt ngày 8/10/1967 và giết ngày 9/10/1967. Cái chết của Che Guevara được nhà triết học Pháp Jean Paul Sartre tôn vinh là “Anh hùng đương đại vĩ đại nhất”.

 

Huyền thoại

 

Quyết định hành quyết Che ở tuổi 39 tại Vallegrande chỉ làm tăng thêm tầm vóc huyền thoại của Che. Và Che đã tái sinh, những câu như “Chúng ta sẽ không bao giờ để anh bị lãng quên!” của thanh niên cuối thập kỷ 60 luôn tràn ngập trên đường phố Santiago, Chile và trên khắp châu Mỹ Latinh lúc bấy giờ.

 

Huyền thoại về người anh hùng Che Guevara được bắt đầu hình thành ngay sau khi ông tử nạn, thậm chí di hài ông cũng trở thành truyền kỳ. Sau khi Che Guevara chết, bọn quân phiệt Bolivia và CIA cắt đôi tay của ông rồi cho người đưa đến Fidel Castro nhằm uy hiếp ông.

 

Còn thi thể Che Guevara cùng thi thể các đội viên du kích khác chúng đem chôn vội vàng vào một ngôi mộ bí mật. Sau mấy lần thay đổi Chính phủ ở Bolivia, mộ của Che dần dần bị quên lãng. Đến tháng 7/1997, người ta đã tìm được mộ của Che, sau khi giám định chính xác, di cốt của Che cùng di cốt của các đội viên du kích được đưa về an táng tại Cuba vào tháng 9 cùng năm.

 

Hiện giờ Che và các đội viên du kích được an táng tại nghĩa trang Santa Clara cách thủ đô La Habana về phía Nam 300km.

 

Tấm gương quên mình vì nghĩa lớn, cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của Che đã và đang cổ vũ nhiều thế hệ thanh niên ở khắp nơi trên thế giới. Học giả phương Tây - Ariel Dorfman đã viết: “Đối với những con người không bao giờ theo bước Che, bị chìm đắm trong thế giới đầy hoài nghi yếm thế, sự tự tư tự lợi và nền công nghiệp tiêu thụ điên cuồng này, còn có gì hấp dẫn hơn thái độ khinh bạc của Che đối với những tiện nghi vật chất và những ham muôn tấm thường. Có thể nói rằng, đó là phẩm chất riêng biệt độc đáo của Che và không thể có bản sao thứ hai của anh trong thế giới này, đây là điều khiến anh trở nên cực kỳ quyến rũ”…

 

Tiểu sử Che Guevara

 

Che Guevara tên thật là Ernesto Guevara de la Serna, sinh ngày 14/6/1928 tại Rosario, Argentina, là con cả trong năm người con của một gia đình trung lưu người Ireland gốc Tây Ban Nha.

 

Cha của Che là kỹ sư Ernesto Guevara Lynch; mẹ là bà Celia de la Serna - một phụ nữ có tư tưởng cấp tiến. Năm lên hai tuổi, Che bị viêm phổi và sau đó phát triển thành bệnh suyễn, căn bệnh này đã theo ông trong suốt cuộc đời.

 

Năm 1948, Ernesto đăng ký học khoa Y thuộc Đại học Buenos Aires.

 

Năm 1952-1953, Che cùng người bạn thân, Alberto Granado, một nhà hóa sinh, thực hiện cuộc hành trình xuyên Châu Mỹ Latinh. Trong chuyến đi này, Che đã hoàn thành cuốn nhật ký đặc biệt thể hiện những trăn trở, suy tư và khát vọng của một chàng trai tài hoa, lãng tử, ngang tàng, thích phiêu lưu mạo hiểm và luôn ước mơ về một tình yêu đẹp. Cuộc hành trình đã góp phần lớn tạo nên tầm nhìn và con người Che Guevara sau này. Những nhận thức từ thực tế đã nâng cao tầm nhìn của anh, khiến anh chấp nhận từ bỏ danh vọng của một bác sĩ và quyết tâm đem cả sinh mệnh của mình để đấu tranh cho tự do, cho quyền được sống bình đẳng và ấm no của những con người bị áp bức trên thế giới

 

Ngày 23/12/1953, Che gặp Hilda Gadea, một người Pêru lưu vong. Sau đó, Gadea giới thiệu anh với những người Cuba lưu vong trong phong trào 26 tháng 7. Trong số đó có Nico Lopez, người mà sau đó đã đặt cho anh biệt danh "CHE".

 

Năm 1955, Che đến Mêhicô và gặp Fidel Castro và quyết định tham gia phong trào cách mạng .

 

Ngày 25/10/1955, Che cùng 81 người lên con tàu Granma rời Mêhicô thực hiện cuộc đổ bộ vào Cuba.

 

Suốt hơn 3 năm chiến đấu, Che đã chứng tỏ tài năng quân sự kiệt xuất của mình. Che là người đầu tiên được phong tư lệnh và đạt ngôi sao vàng trên mũ vào tháng 12 năm 1957, trước cả Raul Castro và Camilo Cienfuegos. Ngày 27/12, Che quyết định tiến vào thành phố Santa Clara, thủ phủ của tỉnh Las Villas và giành thắng lợi vang dội. Đây là một trong những trận đánh quan trọng nhất của quân du kích.

 

Sau cách mạng, Che đã kinh qua những chức vụ quan trọng của chính quyền non trẻ, ban đầu là Thống đốc Ngân hàng quốc gia và sau đó là Bộ trưởng Bộ Công nghiệp. Che cũng thường xuyên thực hiện các chuyến công du tìm kiếm sự ủng hộ cách mạng Cuba từ Liên Xô, các quốc gia châu Á, châu Phi và Đông Âu. Với tư cách là đại diện chính thức của Nhà nước Cuba, Che tham gia nhiều cuộc họp tại Liên Hợp Quốc cũng như các hội nghị của nhiều diễn đàn khác nhau để nói lên tiếng nói không chỉ của người dân Cuba mà còn của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới.

 

Tháng 4 năm 1965, Che bí mật rời Cuba đi Cônggô. Trước đó, Che đã viết cho Fidel Castro một lá thư từ biệt nổi tiếng.

 

Từ 1965 đến 1967, Che thực hiện sứ mạng quốc tế của mình ở Cônggô và Bolivia, Che tổ chức các đội quân du kích chống lại chính quyền tay sai của Mỹ ở các quốc gia này.

 

Ngày 8/10/1967, Che cùng hai đồng đội của mình bị quân đội Bôlivia dưới sự huấn luyện của CIA bắt giữ tại làng La Higuera.

 

13 giờ 10 phút ngày 9/10/1967, Che bị hành quyết tại một ngôi trường dưới sự giám sát của nhân viên CIA, Felix Rodriguez. Nơi chôn thi thể của Che được giữ kín trong suốt 30 năm sau đó.

 

Năm 1997, di hài Che được tìm thấy tại đường băng gần làng Vallegrande và được đưa về Cuba vào ngày 17/10/1997.

KV

Tổng hợp