Trẻ nghỉ hè đi bơi, chuyên gia lưu ý kỹ năng sống còn để tránh đuối nước

(Dân trí) - Nhiều phụ huynh chủ quan với kỹ năng "biết bơi" của trẻ, khiến nguy cơ mất an toàn dưới nước chưa được nhận diện đầy đủ.

"Nhiều phụ huynh cho rằng trẻ biết bơi là đã an toàn, nhưng thực tế không ít nạn nhân đuối nước lại chính là những trẻ có kỹ năng bơi lội", ThS.BS Nguyễn Hoàng Nguyên, chuyên gia đào tạo sơ cấp cứu chia sẻ.

Trẻ nghỉ hè đi bơi, chuyên gia lưu ý kỹ năng sống còn để tránh đuối nước - 1

ThS. BS Nguyễn Hoàng Nguyên có 7 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực đào tạo sơ cấp cứu (Ảnh: Thanh Bình).

Lưu ý được bác sĩ Nguyên đưa ra trong chương trình "Đào tạo sơ cấp cứu đuối nước" tổ chức tại một trường tiểu học và trung học sáng 18/5, nhằm trang bị cho học sinh và phụ huynh các kỹ năng phòng tránh, xử trí tai nạn đuối nước trong dịp nghỉ hè.

Theo bác sĩ Nguyên, mùa hè là thời điểm tai nạn đuối nước ở trẻ em có xu hướng gia tăng do nhiều yếu tố cộng hưởng từ môi trường sống, nhận thức đến kỹ năng an toàn dưới nước.

Trong đó, nguyên nhân hàng đầu là sự thiếu giám sát liên tục của người lớn. Trẻ em thường hiếu động, tò mò nhưng chưa đủ khả năng nhận diện nguy hiểm. Chỉ vài phút người chăm sóc mất tập trung cũng có thể dẫn tới tai nạn nghiêm trọng.

Ngoài ra, môi trường tự nhiên như ao hồ, sông suối, bãi biển luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro khó lường như hố sâu, dòng chảy ngầm, nước xoáy, nền bùn lún hoặc vật cản dưới nước.

Sự thay đổi đột ngột về nhiệt độ và độ sâu cũng dễ khiến trẻ bị chuột rút, hoảng loạn hoặc nhanh chóng kiệt sức.

Một thực tế đáng lo ngại khác là nhiều trẻ chưa được tiếp cận đầy đủ các khóa học bơi và kỹ năng sinh tồn dưới nước đạt chuẩn. Ngay cả khi biết bơi, trẻ vẫn có thể gặp nguy hiểm nếu thiếu kỹ năng đánh giá môi trường, nhận diện dòng chảy xa bờ hoặc xử lý tình huống bất ngờ.

Theo chuyên gia này, "biết bơi" và "an toàn dưới nước" là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Biết bơi chủ yếu là khả năng thực hiện các động tác di chuyển trong môi trường nước ổn định như bể bơi.

Trong khi đó, an toàn dưới nước là tổ hợp kỹ năng toàn diện hơn, bao gồm nhận diện nguy cơ, kiểm soát hơi thở, đứng nước, thả nổi sinh tồn khi kiệt sức và kỹ năng thoát hiểm an toàn.

"Có nhiều trường hợp trẻ bơi tốt nhưng vẫn đuối nước do hoảng loạn tâm lý, sốc nhiệt, đuối sức hoặc đánh giá sai mức độ nguy hiểm của môi trường nước tự nhiên", bác sĩ nói.

Khi trẻ tham gia các hoạt động dưới nước, nguyên tắc cốt lõi là giám sát liên tục và chủ động.

Phụ huynh cần áp dụng quy tắc "giám sát trong tầm tay" đối với trẻ nhỏ, nghĩa là luôn duy trì khoảng cách đủ gần để có thể chạm vào trẻ ngay lập tức.

Tuyệt đối không xao nhãng bởi các thiết bị điện tử hoặc giao phó hoàn toàn trách nhiệm cho người cứu hộ hoặc trẻ lớn hơn.

Kỹ năng cứu người đuối nước trong "thời gian vàng"

Tại chương trình, chuyên gia cho rằng mỗi gia đình cần chủ động trang bị kiến thức sơ cấp cứu cơ bản, đặc biệt là kỹ năng hồi sức tim phổi (CPR), nhằm tăng cơ hội cứu sống nạn nhân trong "thời gian vàng".

Trẻ nghỉ hè đi bơi, chuyên gia lưu ý kỹ năng sống còn để tránh đuối nước - 2

Trang bị kiến thức sơ cấp cứu cơ bản là điều cần thiết nhằm gia tăng cơ hội cứu sống nạn nhân trong "thời gian vàng" (Ảnh: Thanh Bình).

Theo khuyến cáo, khi phát hiện người bị đuối nước, nguyên tắc quan trọng nhất là bảo đảm an toàn cho người cứu. Trẻ em không nên tự ý nhảy xuống nước cứu nạn nếu chưa được đào tạo kỹ năng cứu hộ, bởi nạn nhân trong trạng thái hoảng loạn có thể bám víu khiến cả hai cùng gặp nguy hiểm.

Trong tình huống khẩn cấp, cần nhanh chóng hô hoán, gọi thêm người hỗ trợ và sử dụng các vật nổi như phao, can nhựa, dây thừng hoặc sào để đưa nạn nhân vào bờ.

Sau khi đưa nạn nhân lên nơi an toàn, cần kiểm tra ý thức, nhịp thở và mạch. Nếu nạn nhân bất tỉnh, ngưng thở, phải tiến hành hồi sức tim phổi ngay lập tức, đồng thời gọi cấp cứu 115.

"Trong đuối nước, nguyên nhân ngưng tim chủ yếu do thiếu oxy nghiêm trọng, vì vậy việc ép tim kết hợp thổi ngạt đúng cách có vai trò rất quan trọng trong việc cứu sống nạn nhân", chuyên gia nhấn mạnh.

Cụ thể, cần ép tim ngoài lồng ngực nạn nhân 100-120 lần/phút, mỗi 30 lần ép tim có 2 lần thổi ngạt. Đồng thời, lưu ý đặt tay ép tim đúng vị trí ở nửa dưới xương ức để bảo đảm hiệu quả tối ưu và giảm nguy cơ chấn thương lồng ngực.