Thứ sáu, 07/10/2016 - 15:03

Sử dụng siêu âm để điều trị ung thư?

Dân trí

Theo Giáo sư Denis Guilloteau, PU-PH và Tiến sĩ Bouakaz Ayache, Giám đốc nghiên cứu tại INSERM –Tours: “Hiện tại và tương lai, việc sử dụng siêu âm trong điều trị ung thư phải được coi là trọng tâm”.

Siêu âm ngày càng được sử dụng rộng rãi trong ngành y, từ bên ngoài cơ thể, nó cho phép tập trung một mật độ năng lượng cao vào một vị trí nhất định một cách chính xác ví dụ như tiêu diệt một khối U, Siêu âm cũng có thể làm tăng tính hiệu quả của Hóa Trị Liệu, hay cho phép có được những hình ảnh mà trước đây không thể tiếp cận, rất hữu ích cho những chẩn đoán mới.

Sử dụng siêu âm để điều trị ung thư? - 1

Siêu âm trong ngành y, ứng dụng và quá trình phát triển?

"Từ những năm 70 chúng ta bắt đầu thấy xuất hiện ồ ạt các máy siêu âm được sử dụng tiên phong trong ngành y", giáo sư Frédéric Patat nói: "Nguyên tắc hoạt động cơ bản là khá đơn giản: Đó là bộ định vị bằng sóng âm mà cá heo, cá voi và dơi đã sử dụng. Nó sẽ phát đi một sóng truyền âm hoặc siêu âm mà môi trường gửi lại như là một tín hiệu, tín hiệu này cung cấp những chỉ dẫn về môi trường”.

Tiếp theo đã phải mất hai mươi năm để chuyển đổi các nguyên tắc vật lý này sang hình ảnh có thể khai thác trong ngành y học, dần dần năm này qua năm khác, siêu âm đã đạt được những khả năng mới.

Một trong những ứng dụng đầu tiên, được tiến hành bởi giáo sư Leander Pourcelot INSERM ở Tours, là để đo tốc độ máu chảy, nguyên tắc là hiệu ứng Doppler, giống như cái được sử dụng ở hệ thống radar trên đường.

Sau đó, sự phát triển này rất nhanh, nhất là với khả năng truyền đi hình ảnh trong cùng một thời gian thực hiện. Khi thực hiện một cuộc thu hình, các hình ảnh là trực tiếp, giống như các máy quét cho thấy tình trạng của một đối tượng tại chính thời điểm nó quét. Chỉ có những kỹ thuật tiến bộ nhất mới có thể cho thấy một chuyển động cơ thể. Giáo sư Frédéric Patat nói: "Siêu âm có thể mang lại cho ta một hình ảnh chỉ trong vài giây".

Siêu âm ngày nay kiêm nhiệm hai chức vụ khi nó cho phép tiếp cận sự vật, hiện tượng mà trước đây chưa có khả năng.

Đó là việc thăm khám được thực hiện bằng tay, người khám chỉ cần giữ đầu dò,di chuyển và khám phá phần bên trong của bệnh nhân. Không cần sờ nắn, người ta có thể xem được tất cả những gì ở bên trong cơ thể. Ngoài ra, phạm vi siêu âm cho phép là rất rộng: tim, tử cung có hoặc không có thai, gan, lá lách, tuyến giáp, cơ bắp...

Ngày nay, ngành công nghiệp máy siêu âm phát triển với khả năng tính toán cực kỳ nhanh chóng. Đây quả là những chiếc máy tính thực sự.

Từ cuối những năm 90, những cải tiến hình ảnh trong siêu âm đã được phát triển, chẳng hạn như đo độ đàn hồi của mô trong ung thư học, trên nguyên tắc rằng các khối u không có tính chất đàn hồi giống như các mô xung quanh. Ví dụ khác, Liệu pháp ngược, nó có thể tiêm những chất xúc tác ngược lại dưới dạng khí siêu nhỏ (kích thước một phần nghìn milimet) để kiểm tra sự phân bổ mô mạch.

Những hình thức mới được mở rộng, bằng chứng là sự gia tăng về số lượng các kỳ thi thực hiện bằng siêu âm: trên 5% mỗi năm. Nó được ứng dụng trong lĩnh vực chẩn đoán nhiều hơn trong điều trị. Người ta hy vọng sẽ sớm phát triển đồng thời cả hai: phát hiện bằng siêu âm bệnh và điều trị nó.

Các ứng dụng lớn trong lĩnh vực ung thư là gì?

Trong lịch sử, siêu âm đã được sử dụng khi chẩn đoán thai kỳ, hoặc các U nhân tuyến giáp. Sau đó, nó đã được sử dụng trong lĩnh vực ung thư như là một chiến lược để thực hiện điều trị và cắt bỏ khối u.

Hãy nhớ rằng siêu âm được sử dụng trong chẩn đoán là khá an toàn, nó được chứng minh trong ba mươi năm qua, năng lượng có thể được tăng cường bằng cách tập trung hay tích tụ ở trong cơ thể con người. Nguồn năng lượng này là đủ để làm nóng, do đó có thể làm tăng nhiệt độ để tiêu diệt tế bào ung thư rất chính xác.

Ứng dụng đầu tiên là việc loại bỏ một khối u phổ biến ở phụ nữ trên 40 tuổi, u xơ tử cung. Điều này diễn ra nhẹ nhàng, nhưng việc loại bỏ này cũng có những cái không phù hợp. Siêu âm ở đây thay thế tiêu biểu cho phẫu thuật thông thường.

Trong số các ứng dụng điều trị rất hứa hẹn gần đây nhất, một số vẫn còn đang thử nghiệm, từ INSERM tới Tours, tập trung trọng điểm vào lĩnh vực siêu âm để cung cấp các chất chống ung thư, được phối hợp bởi Tiến sĩ Ayache Bouakaz và Giáo sư Thierry Lecomte, và được tài trợ bởi Inca, nó là một thử nghiệm lâm sàng nhằm kết nối siêu âm với các chất tương phản trong điều trị ung thư gan và ung thư đại trực tràng di căn.

Thực tế, mặc dù số lượng các phân tử hoạt tính chống ung thư ngày càng tăng, nhưng tiến bộ trong điều trị vẫn còn hạn chế đối với một số loại khối u. Một trong những trở ngại chính là sự phân phối thuốc cụ thể trong mô khối u còn thiếu vắng. và dù có những tiến bộ trong hóa trị liệu, nhưng phẫu thuật cắt bỏ di căn gan là biện pháp duy nhất có thể chữa khỏi bệnh này.

Các nghiên cứu của Tours INSERM thời gian gần đây cho thấy sự dao động của các tác nhân tương phản siêu âm “microbubble” dưới tác động của sóng siêu âm tạo ra một điều chế có tính thấm của hàng rào sinh học trong mô hình ung thư tiền lâm sàng. Kỹ thuật này được gọi là “sonoporation” làm tăng tác dụng của thuốc chống ung thư ở khu vực điều trị. Cách tiếp cận này đã được xác nhận thành công trong cả thử nghiệm mô sống “in vitro” và trong các mô hình tiền lâm sàng của ung thư đại trực tràng, do đó xem xét tiến hành một phương pháp trị liệu ở người là có thể.

Nghiên cứu này sẽ được thực hiện ở Bệnh viện Đại học Tours, và bởi các khoa liên quan.

Các điều phối viên khoa học nghiên cứu sáng tạo này là Tiến sĩ Ayache Bouakaz, Giám đốc nghiên cứu tại các đơn vị nghiên cứu INSERM U 930, chuyên viên trong lĩnh vực siêu âm. Các điều phối viên bệnh viện liên quan là Giáo sư Thierry Lecomte, Thủ trưởng cơ quan gan-Gastroenterology và ung thư đường tiêu hóa, quản lý khoa ung thư đại trực tràng. Các phương pháp điều trị đầu tiên sẽ bắt đầu vào năm 2017. Công việc hiện tại của đội siêu âm và hình ảnh sẽ được trình bày tại Đại hội Quốc tế 2016 IEEE IUS bởi Touraine ở Tours

Đáng lưu ý rằng siêu âm là một phương thức vô cùng hiệu quả và thanh lịch trong ung thư, nó gửi tiền năng lượng đến một khối u, nó cũng giúp xác định hoặc làm cho việc hóa trị liệu bên ngoài dễ dàng, theo yêu cầu mà không cần phải phẫu thuật bệnh nhân.

Vũ Long

Theo E-sante