Nguy cơ tim mạch ở người mắc bệnh thận mạn

(Dân trí) - Người mắc bệnh thận mạn có thể gặp biến cố tim mạch trước khi phải lọc máu. Chuyên gia nhấn mạnh cần đánh giá toàn diện, tránh chỉ tập trung vào chỉ số chức năng thận.

Cách điều trị "một lỗ khóa" tiềm ẩn nguy cơ

Ngày 23/10, Bệnh viện Đa khoa Đức Giang tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế “Kết nối đa tuyến - Điều trị đa mô thức - Kiến tạo tương lai”, với sự tham gia của các chuyên gia trong nước và quốc tế.

Một trong những vấn đề được đặt ra tại hội thảo là yêu cầu phối hợp nhiều chuyên khoa trong điều trị, khi người bệnh có thể cùng lúc mắc nhiều bệnh lý, sử dụng nhiều loại thuốc và đối diện với những nguy cơ sức khỏe khác nhau.

Nguy cơ tim mạch ở người mắc bệnh thận mạn - 1

Hội thảo khoa học quốc tế “Kết nối đa tuyến - Điều trị đa mô thức - Kiến tạo tương lai” (Ảnh: Minh Nhật).

PGS.TS Đỗ Gia Tuyển, Trường Đại học Y Hà Nội, dẫn tình huống một cụ bà 82 tuổi, cơ thể suy yếu, đang phải dùng 10 loại thuốc. Người bệnh vừa trải qua đợt tiêu chảy, huyết áp thấp, lại lo lắng vì nghe nói “thuốc này hại thận” nên muốn bỏ bớt thuốc.

Theo chuyên gia, những tình huống thực tế như vậy khác xa hình mẫu “bệnh nhân trung bình” trong các hướng dẫn y khoa. Việc điều trị đòi hỏi bác sĩ cân nhắc tình trạng cụ thể của từng người, thay vì áp dụng kiến thức một cách máy móc.

Với bệnh thận mạn, một vấn đề đáng lo ngại là chỉ tập trung vào creatinin, chỉ số được sử dụng để đánh giá chức năng thận, mà chưa quan tâm đầy đủ đến nguy cơ tim mạch.

“Khi người thầy thuốc chỉ quan tâm vào nồng độ creatinin mỗi lần tái khám, mừng khi xuống, lo khi lên - họ đang nhìn bệnh thận mạn qua một lỗ khóa”, PGS Tuyển nói.

Ông cảnh báo, người mắc bệnh thận mạn có thể tử vong vì biến cố tim mạch trước khi tiến triển đến giai đoạn phải lọc máu. Bởi vậy, theo dõi chức năng thận cần đi cùng với đánh giá những nguy cơ có thể đe dọa tính mạng người bệnh.

Nguy cơ tim mạch ở người mắc bệnh thận mạn - 2

Lọc máu cho bệnh nhân suy thận (Ảnh: Hải Long).

“Điều trị bệnh thận mà quên tim mạch là chữa một nửa con người”, chuyên gia nhấn mạnh.

Bệnh thận mạn thường diễn tiến âm thầm trong thời gian dài, triệu chứng ở giai đoạn đầu không điển hình. Khi chức năng thận suy giảm nặng, người bệnh có thể phải đối diện với nhiều biến chứng, cần lọc máu hoặc ghép thận, kéo theo gánh nặng điều trị lâu dài.

Điều trị toàn diện được chú trọng

Yêu cầu điều trị toàn diện cũng được PGS.TS Đỗ Đình Tùng, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Đức Giang, nhấn mạnh tại hội thảo. Theo ông, tình trạng người bệnh ngày càng phức tạp đặt ra nhu cầu phối hợp giữa các chuyên khoa và kết hợp nhiều phương pháp điều trị.

Từ cứu vãn bàn chân đái tháo đường, điều trị ung thư gan - mật - tụy đến can thiệp động mạch, mục tiêu chung là lựa chọn phương án phù hợp với từng người bệnh, thay vì chỉ giải quyết riêng lẻ một tổn thương.

Bên cạnh phối hợp trong bệnh viện, việc kết nối giữa các tuyến giúp chuyển giao kiến thức, kỹ thuật và duy trì quá trình chăm sóc từ cơ sở y tế đến gia đình.

PGS Tùng cho biết, Bệnh viện Đa khoa Đức Giang đã từng bước triển khai các kỹ thuật chuyên sâu như ghép thận, can thiệp tim mạch, đồng thời chuẩn hóa xét nghiệm theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 15189. Việc hợp tác với các bệnh viện, trường đại học và chuyên gia quốc tế nhằm tiếp tục nâng cao năng lực điều trị.

Hội thảo có các phiên chuyên môn về nội - nhi, ngoại - sản, liên chuyên khoa - cận lâm sàng, y tế số và chăm sóc người cao tuổi. Các chuyên gia trao đổi về điều trị bệnh tim mạch, bệnh thận, ung thư, hồi phục sau phẫu thuật và chất lượng xét nghiệm.

Nguy cơ tim mạch ở người mắc bệnh thận mạn - 3

Lễ ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác giữa Bệnh viện Đa khoa Đức Giang và Bệnh viện Trung ương Saiseikai Tokyo (Ảnh: Minh Nhật).

Phiên can thiệp nội mạch được bố trí truyền hình trực tiếp tới hội trường, với ê-kíp Bệnh viện Đa khoa Đức Giang thực hiện, chuyên gia Bệnh viện Trung ương Saiseikai Tokyo, Nhật Bản, tư vấn và trao đổi chuyên môn.

Trong định hướng gửi tới hội thảo, TS Trần Văn Chung - Phó Giám đốc Sở Y tế Hà Nội nhấn mạnh yêu cầu phát triển kỹ thuật chuyên sâu ngay tại các bệnh viện của thành phố, giảm chuyển tuyến không cần thiết, đồng thời bảo đảm chất lượng và an toàn người bệnh.

Hoạt động hợp tác quốc tế cần được cụ thể hóa bằng chuyển giao kỹ thuật, đào tạo nhân lực và những kết quả phục vụ trực tiếp người dân. Các bệnh viện cũng cần tăng cường hỗ trợ tuyến dưới, gắn kết với y tế cơ sở và chăm sóc sức khỏe ban đầu.

Đối với trí tuệ nhân tạo và công nghệ số, yêu cầu đặt ra là ứng dụng có kiểm soát, bảo đảm hiệu quả, an toàn, tránh chạy theo phong trào. Những tiến bộ kỹ thuật cần đi cùng với cải thiện chất lượng khám chữa bệnh, để người dân được tiếp cận dịch vụ phù hợp ngay tại tuyến điều trị của mình.