Vạn dặm thác ghềnh của những người đưa đại pháo vượt biên về Điện Biên Phủ
(Dân trí) - Ở tuổi 102, ông Trần Phiên vẫn giữ được chất giọng hào sảng của một người lính đã đi qua hai cuộc chiến trường kỳ, kể về hành trình sang nước bạn tiếp nhận khí tài hạng nặng.
Đường sang đất bạn lập Đại đoàn Công pháo
Tham gia hoạt động cách mạng từ năm 17 tuổi, trở thành Đảng viên từ tháng 1/1946 và từng đảm nhiệm vị trí Phó trưởng ban Tuyên huấn tỉnh Hà Nam Ninh cũ, cuộc đời ông rẽ sang bước ngoặt lớn vào năm 1949 khi được nhà nước điều động vào quân ngũ. Thời điểm đó, quân đội cần tăng cường những cán bộ, Đảng viên giàu kinh nghiệm chính trị để chuẩn bị cho các chiến dịch lớn.
Đầu năm 1950, sau khi Việt Nam và Trung Quốc chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, một nhiệm vụ có tính chất bước ngoặt được triển khai: cử các đơn vị sang Trung Quốc huấn luyện và tiếp nhận khí tài hạng nặng. Ông Phiên nằm trong đoàn quân đặc biệt ấy, xuất phát từ vùng núi Nho Quan (Ninh Bình) đi bộ sang biên giới.
"Cứ ngày đi đêm nghỉ, mỗi ngày chúng tôi bắt buộc phải đi ít nhất 20 cây số", ông Phiên nhớ lại.

Ông Trần Phiên, 102 tuổi, tại sự kiện tri ân người có công năm 2026 (Ảnh: Mạnh Quân).
Hành trang của người lính khi đó chỉ đơn giản gồm một ống nứa đựng muối, một túi gạo quàng qua vai và lá cọ che mưa. Bộ đội không có quần áo dự phòng, khoác trên mình bộ quần áo nâu vải thô đã sờn bạc.
Chuyến hành quân xuyên rừng, vượt núi kéo dài ròng rã suốt 3 tháng trời. Bệnh sốt rét ác tính cùng sự khắc nghiệt của núi rừng Việt Bắc đã cướp đi sinh mạng của không biết bao nhiêu chiến sĩ. Nhớ về chặng đường gian khổ ấy, ông Phiên ngân nga lại mấy câu thơ do mình tự sáng tác dọc đường:
"Muỗi rừng ve vắt bay đầy đặc
Thác đổ như mưa tạnh đỉnh đèo
Những ai theo lớp hành quân ấy
Nhớ lại làm ghi của cuộc đời".
Sự hao hụt lực lượng lớn đến mức "đi một sư đoàn, khi trở về chỉ còn khoảng một trung đoàn". "Cứ hai anh khật khờ khiêng một anh ốm", ông nhớ lại.
Theo tư liệu lịch sử của Binh chủng Pháo binh, các đợt cán bộ, chiến sĩ sang Trung Quốc năm 1950-1951 là tiền thân để thành lập Đại đoàn Công pháo 351 (đặc biệt là Trung đoàn pháo binh 45). Đây được xem là đơn vị pháo binh cơ giới hiện đại đầu tiên, đặt nền móng cho sự phát triển của Binh chủng Pháo binh Việt Nam.
Kỳ tích "pháo xuôi bè"
Tại các trung tâm huấn luyện ở Vân Nam và Tĩnh Tây (Trung Quốc), ông Phiên cùng đồng đội bước vào khóa học nghiêm ngặt. Dù là cán bộ làm công tác chính trị, ông vẫn phải học thuộc từng thông số kỹ thuật, cách vận hành pháo. Sau những năm tháng rèn luyện, đoàn quân được bàn giao hàng chục khẩu lựu pháo 105mm cùng pháo cao xạ.
Đầu năm 1953, nhiệm vụ đưa số pháo này về nước chuẩn bị cho cục diện chiến trường Đông Xuân 1953-1954 đặt ra một bài toán hậu cần cực kỳ hóc hiểm. Quân Pháp phát hiện và ra sức không kích, đánh phá nát các con đường độc đạo và cầu cống từ biên giới Lào Cai về hạ lưu. Xe cơ giới không thể di chuyển, mà mỗi khẩu pháo 105mm nặng tới gần 2,5 tấn.
Trí tuệ của bộ đội Việt Nam đã tạo nên một kỳ tích chưa từng có trong lịch sử quân sự: tháo rời pháo để cho trôi bè trên sông Hồng.
Ông Trần Phiên kể: "Hơn 300 chiếc bè được đóng để xuôi từ Lào Cai về Tuyên Quang, Yên Bái. Pháo được tháo rời tới từng cái ốc vít, cho vào từng hòm gỗ. Nhưng dòng sông Hồng khi đó đầy ghềnh thác dữ tợn với vô số con thác như thác Cối Xay, thác Điên Khùng, thác Miệng Hổ".
Để tránh nguy cơ đắm bè mất pháo, bộ đội áp dụng cách làm mưu trí: chất đầy đá nặng lên bè mảng để đi trước tập lái, thăm dò luồng lách và vượt qua 25 ghềnh thác nguy hiểm. Khi đã thuộc dòng chảy, chiến sĩ mới dám xếp từng hòm linh kiện pháo lên bè để vận chuyển.

Người Chính trị viên hơn 100 tuổi kể cặn kẽ về từng sự kiện lịch sử đã qua hơn 70 năm (Ảnh: Mạnh Quân).
Đầu năm 1953, Trung đoàn Pháo binh 45 đã tháo rời xe GMC và lựu pháo 105mm, kết bè mảng xuôi dòng sông Hồng từ Lang Thíp (Lào Cai) về bến Âu Lâu (Yên Bái) và Tuyên Quang. Sau gần hai tháng lênh đênh vượt sóng dữ, toàn bộ xe, pháo và hàng ngàn viên đạn đã về đến căn cứ an toàn tuyệt đối, không bị thất thoát.
Máu xương viết nên "vua chiến trường"
Trở về nội địa, các linh kiện pháo được lắp ráp hoàn chỉnh, kiểm tra kỹ thuật tỉ mỉ trước khi tiếp tục hành trình vượt núi cao, đèo dốc để tiến vào lòng chảo Điện Biên Phủ. Sự xuất hiện bất ngờ của pháo lựu 105mm - vũ khí mà Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ của Pháp không bao giờ tính tới - đã làm thay đổi hoàn toàn tương quan lực lượng trên chiến trường.
Thành quả của hành trình vạn dặm mà ông Trần Phiên và đồng đội đã đi, cuối cùng đã được lịch sử khắc ghi bằng những loạt đạn làm rung chuyển lòng chảo Điện Biên. Theo hồi ký "Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đúng 17 giờ 15 phút ngày 13/3/1954, những loạt đạn lựu pháo 105mm từ các trận địa trên cao đã đồng loạt dội xuống cứ điểm Him Lam, mở màn chiến dịch.
Trong các tài liệu lịch sử quân sự Pháp, tiêu biểu là cuốn "Dien Bien Phu" của sử gia Pierre Rocolle, sự bất lực của pháo binh Pháp trước hỏa lực Việt Minh đã dẫn đến một bi kịch: Trung tá Charles Piroth - chỉ huy pháo binh tập đoàn cứ điểm - đã tự sát bằng lựu đạn ngay trong đêm 15/3. Ông chọn cái chết vì đã không giữ được lời hứa "làm câm lặng" pháo binh đối phương, một sai lầm chết người khi đánh giá thấp ý chí và khả năng vận chuyển khí tài của quân đội Việt Nam.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, Chính trị viên Trần Phiên tiếp tục cùng đơn vị về tiếp quản Thủ đô tháng 10/1954, rồi lại vào Nam chiến đấu dọc tuyến sông Bến Hải trong những năm tháng chống Mỹ.
Nhìn lại hành trình hơn một thế kỷ đời người, người lính già không giấu được sự xúc động và niềm tự hào: "Rất sung sướng! Chúng tôi là Bộ đội Cụ Hồ".
Khi so sánh hành trình gian khổ xuyên rừng năm xưa với những chuyến bay chỉ mất hơn một giờ đồng hồ từ Hà Nội vào TPHCM ngày nay, người lính già nở nụ cười tươi rói. "Cuộc sống giờ đây quá hạnh phúc rồi!"
Những vệt sơn thời gian có thể làm mờ đi ký ức của nhiều người, nhưng với cụ Trần Phiên, ký ức về đoàn quân xẻ núi, kéo pháo trôi bè năm ấy vẫn là khúc tráng ca đẹp nhất của một thế hệ đã dâng hiến trọn tuổi thanh xuân cho độc lập của dân tộc.












