Lính Trường Sơn kể phút gom thi thể đồng đội và ngày trở về từ... bàn thờ
(Dân trí) - Cựu binh Nguyễn Tài Ba (83 tuổi) nhớ như in thảm cảnh gom xác đồng đội giữa mưa bom B52, và ngày ông sống sót trở về khi quê nhà đã lập bàn thờ cúng giỗ.
Có mặt tại Hội nghị tri ân người có công toàn quốc năm 2026, cựu chiến binh Nguyễn Tài Ba gây ấn tượng với câu chuyện về những năm tháng khốc liệt ở chiến trường Trường Sơn. Ông sinh năm 1943, sống tại Phú Thọ, hiện công tác tại Hội Cựu chiến binh tỉnh. Dù mang trên mình hai vết thương và di chứng chất độc da cam, ký ức về những năm tháng khốc liệt "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước" của người cựu binh 83 tuổi vẫn vẹn nguyên, sắc nét.
Bữa khoai ngứa và trận sốt rét thập tử nhất sinh
Năm 1964, ông Tài Ba chính thức hành quân vào chiến trường Trường Sơn. Nhiệm vụ của ông cùng đồng đội khi đó là mở đường và bảo vệ tuyến giao thông huyết mạch từ Bắc vào ngã ba Đông Dương tại Ngọc Hồi, Kon Tum (cũ).
Nhớ lại những ngày đầu, ông cho biết bộ đội không có trang bị tăng võng tươm tất như giai đoạn sau. Mỗi người lính chỉ được phát một tấm nilon dài 3m và một mảnh bạt nhỏ 2m, buộc dây túm lại để ngủ giữa rừng. Hành trình đi bộ ròng rã suốt 3 tháng rưỡi dưới những đợt mưa rừng kéo dài suốt 6 tháng, lính Trường Sơn cứ thế khoác nilon, vác ba lô, gạo, gạch đi luồn lách dưới tán cây. Người đi trước mở đường, người đi sau xóa dấu vết.

Cựu chiến binh Nguyễn Tài Ba (Ảnh: Mạnh Quân).
Nhưng cái đói, cái rét mới là nỗi ám ảnh thường trực. "Vào đến trận địa, đói lắm, thiếu thốn từ hạt muối tới hạt gạo. Cả đơn vị hơn 100 người khi đó chỉ còn mấy cân gạo. Có những lúc chúng tôi phải lấy khoai ngứa nấu lên cho bộ đội ăn cầm cự, ăn chung bằng các xoong chảo to", ông Ba mộc mạc kể.
Năm 1969, ông mắc sốt rét rừng - căn bệnh đã cướp đi sinh mệnh của vô số lính Trường Sơn. Cơ thể gầy xọp, ông miêu tả bộ dạng của lính sốt rét khi đó là "mắt trắng dã, môi thâm xì".
"Tôi ốm, đi lại hai tay phải chống hai gậy. Lúc ăn cơm không ai bưng cho, vì ai cũng yếu. Tới bữa, tôi tự chui vào màn ăn để tránh muỗi. Có những lúc người lính chết vì sốt rét nhiều hơn là chết vì đánh trận là thế", ông hồi tưởng.
Ở quê nhà, gia đình bặt vô âm tín, nhiều năm không nhận được thư từ nên đinh ninh ông đã hy sinh. Bàn thờ cúng giỗ đã được người thân lập lên trong nước mắt.
Ám ảnh ngã ba 48 và mùi tử khí
Suốt những năm tháng bám trụ Trường Sơn, đơn vị của ông Ba phải hoạt động trong vùng bị rải chất độc hóa học. Ông nhớ lại cảnh tượng những thân cây cổ thụ to bị bom và hóa chất làm khô quắt lại, "không còn một cái lá nào".
Để tránh máy bay địch phát hiện, bộ đội tuyệt đối không được hoạt động ban ngày. Ban ngày họ chui xuống hầm chữ A, hố cá nhân trong rừng rậm để ngủ, chỉ đến khi màn đêm buông xuống mới bắt đầu ra mặt đường san lấp hố bom, mở đường cho xe qua.
Giai đoạn 1971-1972 là thời điểm ác liệt và để lại vết thương tâm lý sâu đậm nhất trong lòng người cựu binh. Khi đang làm nhiệm vụ bảo vệ đường, đơn vị ông chứng kiến một chiếc xe chở 20 chiến sĩ đặc công bị trúng bom B52 ngay tại ngã ba 48.

Ngã ba Đông Dương là điểm cuối trên tuyến đường Trường Sơn huyền thoại (Ảnh: MIA).
"Ám ảnh kinh khủng, tôi không thể hình dung sao mình còn sống. Xe trúng bom, 20 anh em đặc công hy sinh hết. Chúng tôi đi gom nhặt lại từng mảnh thi thể của đồng đội, cứ hai người chôn chung một hố, ghép bằng ván nứa non", giọng ông chùng xuống.
Việc mai táng cũng diễn ra trong sự khốc liệt khi máy bay địch liên tục quay lại đánh bồi. Đang nhặt xác đồng đội, máy bay réo, những người lính công binh lại phải nhảy xuống hố nấp, trực thăng đi khỏi lại ngoi lên nhặt tiếp. Quần áo không có để thay, mỗi người lính ám mùi tử khí, mùi mồ hôi và máu thịt quyện vào nhau suốt nhiều tuần liền.
Hơn 60 năm chưa một ngày nghỉ ngơi
Khác với nhiều đồng đội được trở về nhà sau ngày đất nước thống nhất năm 1975, hành trình quân ngũ của ông Tài Ba vẫn chưa khép lại. Năm 1976, ông tiếp tục nhận nhiệm vụ sang Thượng Lào để làm nghĩa vụ quốc tế.
Đến năm 1980, ông mới chính thức được xuất ngũ. Ngày người lính Trường Sơn khoác ba lô bước vào cửa, người thân ngỡ ngàng như thấy một người bước ra từ cõi chết, bởi bàn thờ ông đã được gia đình lập từ lâu. Không ai tin ông có thể vượt qua mưa bom bão đạn, bệnh tật và đói khát để trở về.
Thế nhưng, trái tim nhiệt huyết của người lính Cụ Hồ dường như chưa bao giờ có khái niệm "nghỉ hưu". Ngay khi trở về địa phương năm 1980, ông lập tức tham gia công tác xã hội.
"Tôi chưa nghỉ một ngày nào," người cựu binh 83 tuổi khẳng định. Từ vị trí Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh, cho đến Phó Chủ tịch Hội truyền thống Trường Sơn, ông đều tận tụy cống hiến. Ông mong muốn những câu chuyện chân thực, trần trụi và bi tráng của Trường Sơn năm xưa tiếp tục được giáo dục, truyền lại cho thế hệ trẻ, để cái giá của hòa bình không bao giờ bị lãng quên.







