Ký ức "say thuốc súng" của người lính mất một cánh tay ở Triệu Hải

(Dân trí) - Ở tuổi 87, ông Nguyễn Văn Sừng vẫn rùng mình khi nhớ về 19 ngày đêm khốc liệt tại Quảng Trị, nơi ông cùng đồng đội đánh áp sát để vô hiệu hóa pháo hạm và bom Mỹ trong chiến dịch Triệu Hải.

"Điệu hổ ly sơn"

Nhập ngũ vào tháng 2/1964, chàng thanh niên Nguyễn Văn Sừng khi đó mới 24 tuổi, được biên chế vào Trung đoàn 6 thuộc Phân khu Bắc Trị Thiên. Đây là giai đoạn Mỹ bắt đầu đổ quân viễn chinh vào miền Nam, biến Quảng Trị thành vùng chiến sự ác liệt nhất với mục tiêu thiết lập "hàng rào điện tử McNamara" và ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc.

Trong ký ức của ông Sừng, những trận đánh ở vùng Triệu Hải (Triệu Phong - Hải Lăng) không dành cho những người yếu tim. Đối mặt với hỏa lực vượt trội từ pháo hạm ngoài biển bắn vào và bom từ máy bay dội xuống, quân ta phải dùng mưu trí để bù đắp sự chênh lệch.

"Hồi đó, đồn bốt địch kiên cố lắm, hầm ngầm tầng tầng lớp lớp, lại có đại liên và pháo 12 ly 7 quét liên tục. Nếu mình đánh thẳng vào đồn thì không khác gì lấy thịt đè người, tổn thất sẽ rất lớn", ông Sừng nhớ lại.

Ký ức say thuốc súng của người lính mất một cánh tay ở Triệu Hải - 1

Cựu chiến binh Nguyễn Văn Sừng (Ảnh: Mạnh Quân).

Chiến thuật được đơn vị ông áp dụng lúc bấy giờ là "Dụ hổ rời núi" (Điệu hổ ly sơn). Quân ta không đánh vào căn cứ chính mà tỉa các đồn nhỏ xung quanh hoặc đánh vào các toán quân đi tuần. Khi quân chủ lực địch rời đồn ra ứng cứu, rơi vào trận địa phục kích đã giăng sẵn giữa đường, các chiến sĩ mới bắt đầu nổ súng. Đó là cách để tước bỏ lợi thế phòng thủ kiên cố của đối phương.

Trận chiến một chọi tám

Đỉnh điểm của sự khốc liệt là chiến dịch Triệu Hải kéo dài 19 ngày đêm liên tiếp. Ông Sừng mô tả đó là một cuộc đối đầu không cân sức khi quân ta thường chỉ có một tiểu đoàn hoặc trung đoàn thiếu, nhưng phải chống chọi với 7-8 trung đoàn địch liên tục thay phiên nhau đổ quân.

"Hết trung đoàn này đến trung đoàn khác, chúng thay quân hằng ngày để duy trì sức ép. Còn mình thì cứ bám trụ hầm hào, hết đợt pháo lại đến đợt xung phong", ông kể.

Để khắc chế bom đạn Mỹ, Trung đoàn 6 thực hiện triệt để phương châm của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh: "Nắm thắt lưng địch mà đánh". Đây là lối đánh áp sát, cự ly gần đến mức pháo binh và máy bay Mỹ không thể can thiệp vì sợ trúng quân nhà.

"Phải bám sát chúng, đánh giáp lá cà. Khi đó, bom Mỹ chỉ có thể dội sau lưng hoặc trước mặt mình, chứ không dám dội thẳng vào giữa", lão binh 87 tuổi giải thích về cách mà những người lính tay không bắt giặc vượt qua nỗi sợ hãi hỏa lực.

Ông dùng cụm từ "đổ thịt ra mà xào" để miêu tả sự tàn khốc. Sau những ngày đêm giữ chốt, có những đơn vị khi rút ra chỉ còn lại một phần ba quân số. Những người sống sót đều là những "người thép" đi ra từ lửa đạn.

Cơn "say thuốc súng" ở làng Đồng Bào

Khi được hỏi về cánh tay đã mất, ông Sừng lặng đi một chút rồi nhắc đến cột mốc không bao giờ quên: Ngày 22/2/1966, tại trận đánh làng Đồng Bào.

Trong làn khói đạn đặc quánh, một quả pháo nổ gần đã tước đi cánh tay trái của ông. Nhưng điều kỳ lạ là lúc đó, ông không cảm thấy đau đớn, cũng không tiếng kêu la.

"Người ta gọi đó là "say thuốc súng". Khi súng đã nổ, tai mình ù đi, chỉ còn biết nhìn thẳng về phía địch mà bắn. Không còn biết sợ chết là gì, cũng chẳng biết đau là gì. Lúc đó chỉ nghĩ: Mình không diệt hắn thì hắn diệt mình", ông Sừng chia sẻ.

Phải đến khi trận đánh tạm lắng và được đồng đội đưa ra tuyến sau, ông mới nhận ra mình đã mất một phần cơ thể. Nỗi đau thể xác khi đó cũng không lớn bằng nỗi đau tinh thần khi hay tin những người đồng đội vừa sát cánh bên mình - từ Trung đội trưởng đến các anh em trong tiểu đội - đều đã ngã xuống ngay tại làng Đồng Bào đêm ấy.

"Tôi lùi ra sau mới biết họ chết hết rồi. Chỗ họ nằm, tôi vừa mới bước qua. Chiến tranh là thế, ranh giới giữa cái sống và cái chết chỉ tính bằng gang tay", giọng ông nghẹn lại.

Sau khi bị thương nặng, tháng 2/1966, ông Nguyễn Văn Sừng được đưa ra Bắc điều trị và phục viên với tỷ lệ thương tật lớn. Ông gọi mình là người "bị loại khỏi vòng chiến đấu" sớm, nhưng thực tế, tinh thần của người lính Trung đoàn 6 vẫn chảy trong huyết quản ông suốt gần 60 năm qua.

Trở về đời thường với một cánh tay, ông vẫn tham gia công tác tại địa phương, là thành viên tích cực của Hội Cựu chiến binh. Ở tuổi "xưa nay hiếm", ông vẫn minh mẫn kể lại từng chiến thuật, từng địa danh lịch sử với một niềm tự hào không giấu giếm. Với ông, cánh tay để lại chiến trường không phải là một sự mất mát, mà là một phần máu thịt đã hòa vào đất mẹ Quảng Trị để đổi lấy màu xanh thanh bình của ngày hôm nay.

"Giờ nhớ lại thì rùng mình, nhưng nếu cho chọn lại, tôi vẫn đi. Đời người lính mà, đã nổ súng là không bao giờ biết lùi bước".