Xuất khẩu lao động: Thiếu nguồn vì… lẫn lộn thông tin

(Dân trí) - Việc liên tục thông tin về tình trạng thất nghiệp, mất việc khiến người lao động phải về nước trước thời hạn cũng đã gây tâm lý hoang mang cho những lao động trong nước đang có ý định đi xuất khẩu lao động (XKLĐ)…

Không có nguồn để tuyển do lao động hoang mang

Tại tọa đàm về thúc đẩy XKLĐ mới đây do Cục Quản lý lao động ngoài nước (QLLĐNN) và Hiệp hội xuất khẩu lao động tổ chức, đại diện các doanh nghiệp cho biết:

Suy thoái kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động đưa người lao động ra nước ngoài làm việc. Có doanh nghiệp nêu đã giảm 25% lượng đơn hàng; doanh thu về XKLĐ giảm 52%; kết quả tạo nguồn giảm 50% so với thời kỳ trước suy thoái.
 
Xuất khẩu lao động: Thiếu nguồn vì… lẫn lộn thông tin  - 1
Đừng để thiếu nguồn vì lẫn lộn thông tin (ảnh minh hoạ).

Theo nhận định của Cục QLLĐNN, ngoài nguyên nhân suy thoái kinh tế làm giảm nhu cầu tiếp nhận của thị trường lao động ngoài nước, thì việc liên tục thông tin trên báo chí về tình trạng thất nghiệp, mất việc khiến người lao động phải về nước trước thời hạn cũng đã gây tâm lý hoang mang cho lao động trong nước. Bản thân các ngân hàng thương mại cũng xiết chặt các thủ tục cho vay vốn đi XKLĐ vì sợ rủi ro cao…

Chính vì vậy, đã xảy ra một nghịch lý, không ít doanh nghiệp tuy vẫn khai thác được hợp đồng cung ứng cho các thị trường như Đài Loan, Malaysia, khu vực Trung Đông... với điều kiện làm việc và thu nhập tương đối tốt nhưng không thể tuyển được lao động để cung ứng.

Việc thiếu nguồn cũng đã tạo ra một tiền lệ xấu trong việc tuyển chọn lao động, đó là phát sinh hiện tượng doanh nghiệp đưa ra các thông tin tuyển chọn “bong bóng”, trong đó nêu về điều kiện thu nhập cao khác thường ở một số thị trường, khiến một số lao động đã đăng ký với doanh nghiệp khác phá hợp đồng để chạy theo các hợp đồng “hấp dẫn” này.

Cốt để có lao động, một số chủ tầu đánh cá nước ngoài cũng đưa ra các điều kiện lao động sai sự thật, như nâng khống trọng tải của tàu (tàu càng to thì điều kiện lao động và thu nhập càng tốt) hoặc nêu hành trình cập cảng nghỉ của tàu không đúng thực tế (gây hy vọng ảo người lao động được nghỉ ngơi tại các cảng thuộc các khu vực phát triển trên thế giới)… Đây cũng là một trong những lý do khiến người lao động cảm thấy bị lừa dối khi đối mặt với thực tế của công việc nơi xứ người.

Cần thiết có cơ chế phòng vệ

Theo báo cáo của Cục quản lý lao động ngoài nước, 6 tháng đầu năm, Việt Nam mới chỉ đưa được 33.435 lao động đi làm việc ở nước ngoài, đạt 30% kế hoạch năm và giảm 17% so với cùng kỳ năm 2008. Trong khi đó, đã có trên 8.000 lao động Việt Nam mất việc làm phải về nước trước thời hạn, đây có thể coi là con số lớn nhất kể từ trước đến giờ.

Trên thực tế, việc lao động về nước trước thời hạn không phải bây giờ mới xảy ra và cũng không phải chỉ vì nguyên nhân thiếu việc làm. Có những trường hợp, lao động Việt Nam phải rời nước sở tại vì đã vi phạm luật lao động, khả năng làm việc không đáp ứng yêu cầu hoặc lý do sức khoẻ… Tuy nhiên, trong thời điểm hiện nay, không dễ để thẩm định được chính xác đâu là về nước do không có việc, đâu là về nước do lỗi người lao động!

Điển hình như mới đây, một số lao động đang làm việc tại công ty TNHH VYMPEL (LB Nga) hoạt động trong lĩnh vực may mặc đã trở về trước thời hạn. Về phía lao động, họ cho rằng, công việc mà họ được nhận vào làm việc bên đó không đúng như lời hứa trước lúc đi. Cụ thể là điều kiện làm việc không đảm bảo, chỗ ăn ở chật chội và tạm bợ, không đủ việc, nợ lương…

Trong khi đó,  công ty cổ phần xuất khẩu lao động thương mại và Du lịch (tên giao dịch là TTLC), đơn vị đã đưa số lao động trên đi khẳng định là không hề có chuyện này, và hợp đồng đưa lao động trên đã được Cục QLLĐNN thẩm định.

Đại diện phụ trách nhân sự của công ty VYMPEL cũng cho biết, lao động vẫn làm việc bình thường, thu nhập và công việc ổn định, ngoại trừ một số người không đáp ứng được tay nghề, công ty đang đào tạo thêm nên thu nhập thấp là điều đương nhiên…

Chưa thể khẳng định ai đúng, ai sai, nhưng qua sự việc cho thấy, về phía người lao động, để bảo vệ lợi ích hợp pháp, họ cần có đầy đủ các chứng cứ, cũng như đối với các doanh nghiệp cần thiết lập một cơ chế phòng vệ hợp pháp. Đó không chỉ là các văn bản pháp lý liên quan mà cần có sự liên lạc thường xuyên với đơn vị sử dụng lao động ở nước ngoài, nắm rõ tình hình thực tế để làm “vũ khí” khi gặp rủi ro.

Đã đến lúc, bên cạnh việc cần xử lý quyết liệt những doanh nghiệp vi phạm, Cục QLLĐNN cần đẩy mạnh chính sách hỗ trợ doanh nghiệp làm ăn đứng đắn để lấy lại lòng tin cho người lao động đi XKLĐ, một lĩnh vực quan trọng trong giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo.

Lan Hương