Hạn chế lao động chủ động nghỉ việc để nhận trợ cấp thất nghiệp
(Dân trí) - Chỉ cần đóng bảo hiểm thất nghiệp 12 tháng (bằng 12% tiền lương) rồi nghỉ việc, người lao động được hưởng 3 tháng trợ cấp (bằng 180% tiền lương). Do đó, một số lao động có ý định chủ động nghỉ việc.

Người lao động thất nghiệp thông báo tình hình tìm kiếm việc làm mới (Ảnh: Tùng Nguyên).
Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp.
Theo Luật Việc làm năm 2025, mức đóng bảo hiểm thất nghiệp được quy định như sau: Người lao động đóng tối đa bằng 1% tiền lương tháng; người sử dụng lao động đóng tối đa bằng 1%; nhà nước hỗ trợ tối đa 1%.
Như vậy, mỗi năm, quỹ Bảo hiểm thất nghiệp thu tối đa 36% tiền lương tháng của người lao động, trong đó chỉ có 12% là người lao động đóng từ tiền lương của mình.
Nhưng khi hưởng, người lao động được nhận rất nhiều quyền lợi để đảm bảo cuộc sống khi chưa tìm được việc làm mới như: Trợ cấp thất nghiệp, bảo hiểm y tế miễn phí, học phí và tiền ăn khi tham gia đào tạo nâng cao kỹ năng...
Nếu chỉ xét riêng về trợ cấp thất nghiệp, mức hưởng trợ cấp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng liền kề trước khi thất nghiệp. Người lao động đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 3 tháng trợ cấp thất nghiệp. Sau đó, cứ đóng thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 1 tháng trợ cấp, tối đa không quá 12 tháng.
Như vậy, chỉ xét riêng về khoản tiền đóng – hưởng, người lao động được lợi nhiều vì số tiền trợ cấp được hưởng cao hơn nhiều so với số tiền đã đóng.
Ví dụ, nếu làm việc 12 tháng, người lao động chỉ đóng vào quỹ Bảo hiểm thất nghiệp 12% tiền lương tháng nhưng họ được nhận 3 tháng trợ cấp thất nghiệp, tức là 180% tiền lương tháng (mỗi tháng 60%).
Chính vì khoản lợi này mà có tình trạng một số người lao động chủ động nghỉ việc để hưởng trợ cấp thất nghiệp, đặc biệt là ở nhóm lao động phổ thông và lao động trẻ tuổi do dễ tìm được công việc mới.
Cán bộ công đoàn một công ty may mặc có hàng ngàn lao động cho biết tình trạng này khiến biến động nhân sự tại doanh nghiệp rất lớn. Nhiều công nhân làm được 1 năm là nghỉ việc để nhận trợ cấp rồi ra ngoài làm thời vụ, không đóng bảo hiểm xã hội để vừa có trợ cấp thất nghiệp, vừa có thu nhập từ công việc thời vụ.
Thậm chí, có trường hợp công nhân nghỉ việc rồi xin hưởng trợ cấp thất nghiệp, sau đó lại xin làm tiếp tại doanh nghiệp vừa nghỉ theo dạng nhận lương theo ngày, theo tuần, không tham gia bảo hiểm. Khi hết thời gian hưởng trợ cấp, họ mới ký hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm trở lại.
Để hạn chế tình trạng này, lãnh đạo một trung tâm dịch vụ việc làm phía Nam cho biết sẽ siết chặt việc xác minh việc làm của người lao động hưởng thất nghiệp để hạn chế tình trạng chủ động nghỉ việc nhận trợ cấp.
Trung tâm sẽ căn cứ vào quy định nếu người lao động 2 lần từ chối việc làm do trung tâm giới thiệu mà không có lý do chính đáng sẽ chấm dứt cho hưởng trợ cấp thất nghiệp.
“Mình sẽ giới thiệu cho người lao động công việc tương đồng với công việc cũ trước khi họ thất nghiệp về mức lương, vị trí địa lý, điều kiện làm việc, phù hợp ngành nghề, trình độ chuyên môn... Nếu những công việc như vậy, người lao động vẫn không đồng ý nhận việc thì xác định họ từ chối việc làm do trung tâm giới thiệu theo quy định”, vị này cho biết.
Người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp từ chối việc làm thuộc 1 trong 2 trường hợp sau, được xác định là không có lý do chính đáng.
Thứ nhất là người lao động được Trung tâm Dịch vụ việc làm giới thiệu việc làm phù hợp với ngành, nghề, trình độ được đào tạo hoặc công việc người lao động đã từng làm được ghi trong phiếu tư vấn, giới thiệu việc làm nhưng không đến tham gia dự tuyển lao động.
Thứ hai, người lao động đã tham gia dự tuyển lao động theo giới thiệu của Trung tâm Dịch vụ việc làm nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp và được người sử dụng lao động tuyển dụng nhưng không nhận việc làm đã trúng tuyển (trừ trường hợp việc làm đó không đúng như thông báo tuyển lao động của người sử dụng lao động).





