Bảo hiểm thất nghiệp – “bà đỡ” của thị trường lao động trong giai đoạn biến động

Trường Thịnh

(Dân trí) - Sau hơn 16 năm triển khai, chính sách bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) đã trở thành một trong những trụ cột quan trọng của hệ thống an sinh xã hội Việt Nam, góp phần ổn định thị trường lao động, tạo điều kiện cho doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh.

Trong cuộc trao đổi với ông Lê Quang Trung - nguyên Phó Cục trưởng phụ trách Cục Việc làm, Bộ Nội vụ và PGS.TS Nguyễn Thị Lan Hương - nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội, nhiều góc nhìn thực tiễn về những thành tựu, thách thức cũng như định hướng của chính sách BHTN đã được chia sẻ.

Bảo hiểm thất nghiệp – “bà đỡ” của thị trường lao động trong giai đoạn biến động - 1

Ông Lê Quang Trung - nguyên Phó Cục trưởng phụ trách Cục Việc làm, Bộ Nội vụ và PGS.TS Nguyễn Thị Lan Hương - nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội (ngồi giữa) tại tọa đàm của báo Dân trí (Ảnh: Hải Long).

Dấu ấn sau hơn một thập kỷ

Ông Lê Quang Trung cho biết tính đến nay, Việt Nam đã thực hiện chính sách BHTN được 16 năm 8 tháng - một khoảng thời gian đủ dài để ghi nhận những dấu ấn rõ rệt. Trước hết, số lượng người tham gia tăng liên tục từ 5,9 triệu lượt năm 2009, đến năm 2024 đã vượt 16 triệu lượt, và dự báo năm 2025 sẽ tiếp tục tăng khi Luật Việc làm sửa đổi có hiệu lực. Cùng với đó, hàng triệu người lao động không may mất việc đã được nhận trợ cấp, tư vấn, đào tạo nghề, qua đó trang bị kỹ năng mới để quay lại thị trường với công việc ổn định hơn.

Bảo hiểm thất nghiệp – “bà đỡ” của thị trường lao động trong giai đoạn biến động - 2

Theo ông Trung, hiếm có chính sách nào nhận được sự ủng hộ lớn như BHTN (Ảnh: Hải Long).

Hệ thống pháp luật về BHTN cũng liên tục được điều chỉnh, từ mở rộng đối tượng, ứng dụng công nghệ số, đến việc cập nhật kinh nghiệm quốc tế. Quỹ BHTN duy trì được kết dư, trở thành “tấm đệm an toàn” khi khủng hoảng xảy ra. Riêng giai đoạn Covid-19, quỹ đã chi hơn 30.000 tỷ đồng hỗ trợ người lao động.

Đặc biệt, Việt Nam là quốc gia thứ hai trong ASEAN sau Thái Lan áp dụng BHTN, và được đánh giá là triển khai thành công. “Hiếm có chính sách nào nhận được sự ủng hộ lớn như BHTN, khi vừa mang lại lợi ích trực tiếp cho người lao động, vừa giúp doanh nghiệp giảm chi phí trong bối cảnh khó khăn”, ông Trung nhấn mạnh.

Bảo hiểm thất nghiệp – “bà đỡ” của thị trường lao động trong giai đoạn biến động - 3

TS. Nguyễn Thị Lan Hương cho rằng BHTN không chỉ đơn thuần là trợ cấp ngắn hạn, mà còn là công cụ điều tiết lao động và ổn định xã hội (Ảnh: Hải Long).

Ở góc độ nghiên cứu, TS. Nguyễn Thị Lan Hương cho rằng BHTN không chỉ đơn thuần là trợ cấp ngắn hạn, mà còn là công cụ điều tiết lao động và ổn định xã hội. Chính sách này phát huy vai trò đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng khi Nhà nước linh hoạt hoãn, giảm mức đóng cho doanh nghiệp; người lao động được hỗ trợ để tái hòa nhập thị trường.

“Thất nghiệp không chỉ gây thiệt hại kinh tế mà còn ảnh hưởng đến tâm lý, đời sống gia đình. Với một quốc gia đông dân, nhiều biến động như Việt Nam, BHTN giúp giảm chi phí xã hội và tăng khả năng chống chịu của nền kinh tế”, TS. Hương phân tích.

Những bất cập còn tồn tại

Dù đạt nhiều thành tựu, cả hai chuyên gia đều nhìn nhận chính sách BHTN vẫn còn không ít hạn chế. Theo ông Trung, thiếu những chương trình ngăn ngừa sa thải và giữ việc làm là điểm yếu lớn. Các trung tâm giới thiệu việc làm và đào tạo nghề vẫn chưa đủ nguồn lực để tư vấn, cung cấp thông tin thị trường, trong khi quỹ lại chưa có cơ chế chi cho hoạt động này.

Bảo hiểm thất nghiệp – “bà đỡ” của thị trường lao động trong giai đoạn biến động - 4

Theo các chuyên gia, doanh nghiệp vẫn coi BHTN như nghĩa vụ bắt buộc, chưa thấy hết lợi ích dài hạn của chính sách (Ảnh: Hải Long).

TS. Hương chỉ ra rằng phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn coi BHTN là nghĩa vụ bắt buộc, chưa thấy hết lợi ích dài hạn. Người lao động cũng thiếu thông tin, chủ yếu quan tâm đến trợ cấp mà chưa tận dụng các dịch vụ tư vấn, đào tạo. “Chính sách có 4 cấu phần, nhưng đa phần lao động chỉ nhìn vào một. Tâm lý trông chờ, thậm chí trục lợi, khiến hiệu quả hạn chế”, bà nói.

Trong bối cảnh thị trường lao động thay đổi nhanh, việc số hóa được xem là cơ hội để nâng cao hiệu quả chính sách. Ông Trung cho rằng cần xây dựng hạ tầng và nhân lực số cho BHTN, đồng thời tăng cường công tác dự báo thị trường lao động để định hướng đào tạo nghề.

Bảo hiểm thất nghiệp – “bà đỡ” của thị trường lao động trong giai đoạn biến động - 5

Trong bối cảnh thị trường lao động thay đổi nhanh, ông Trung cho rằng số hóa được xem là cơ hội để nâng cao hiệu quả chính sách (Ảnh: Hải Long).

Việc tổ chức lại quy trình tư vấn, sàn giao dịch việc làm cũng cấp thiết. Hiện mức hỗ trợ học nghề chỉ khoảng 1,5 triệu đồng/tháng, thời gian tối đa 6 tháng, chưa đủ để người lao động trang trải chi phí sinh hoạt. Do đó, Việt Nam cần có cơ chế linh hoạt hơn để khuyến khích lao động tham gia đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng.

Mục tiêu 35% và bài toán mở rộng độ phủ

Nghị quyết 28 đặt mục tiêu 35% lực lượng lao động tham gia BHTN vào năm 2025. TS. Hương cho rằng, đây là con số “trong tầm tay” khi hiện đã đạt hơn 34%. Tuy nhiên, mục tiêu cần tính đến cả lao động phi chính thức –-nhóm chiếm hơn 60% lực lượng lao động. “Thất nghiệp có thể xảy ra với bất kỳ ai, ngay cả chủ doanh nghiệp. Vì vậy, nếu chỉ tập trung vào nhóm làm công ăn lương thì chính sách vẫn bỏ sót một lực lượng rất lớn”, bà nhấn mạnh.

Bảo hiểm thất nghiệp – “bà đỡ” của thị trường lao động trong giai đoạn biến động - 6

TS. Hương cho rằng mục tiêu 35% lực lượng lao động tham gia BHTN vào năm 2025 là con số “trong tầm tay” (Ảnh: Hải Long).

Ông Trung cũng lạc quan với mục tiêu này, nhấn mạnh công nghệ sẽ giúp rà soát chính xác đối tượng. Đặc biệt, từ năm 2026, Luật Việc làm mới mở rộng nhóm tham gia, sẽ tạo ra bước tiến về bao phủ.

Tuy vậy, với doanh nghiệp, áp lực chi phí vẫn là rào cản. Ông Trung đề xuất ngoài đào tạo nghề, chính sách nên có thêm hỗ trợ đổi mới công nghệ, máy móc – những khoản tuy nhỏ nhưng mang lại hiệu quả giữ chân người lao động.

Ở khu vực phi chính thức, TS. Hương cho rằng cần tư duy linh hoạt hơn, có thể áp dụng mô hình BHTN tự nguyện, đóng góp theo nhu cầu và khả năng. Công nghệ sẽ là chìa khóa để quản lý, thống kê và kết nối lực lượng lao động đa dạng này. “Nguyên tắc 3 dễ – dễ tiếp cận, dễ hiểu, dễ thực hiện – phải được đặt lên hàng đầu nếu muốn mở rộng bao phủ”, ông Trung bổ sung.

Bảo hiểm thất nghiệp – “bà đỡ” của thị trường lao động trong giai đoạn biến động - 7

Theo cả 2 chuyên gia, một chính sách nhân văn sẽ khó phát huy hiệu quả nếu người lao động và doanh nghiệp không hiểu đúng (Ảnh: Hải Long).

Theo cả 2 chuyên gia, một chính sách nhân văn sẽ khó phát huy hiệu quả nếu người lao động và doanh nghiệp không hiểu đúng. Theo TS. Hương, các nhà làm luật cần thay đổi tư duy truyền thông, tận dụng AI, video, trợ lý ảo, mạng xã hội để tiếp cận giới trẻ – nhóm lao động dịch chuyển nhanh và nhiều kỳ vọng vào tương lai.

Các trung tâm dịch vụ việc làm, ngoài chức năng tư vấn, nên đảm nhận thêm nhiệm vụ truyền thông, kết nối thông tin tới từng trường hợp cụ thể, đồng thời, có thể huy động KOLs, văn nghệ sĩ để tạo sức lan tỏa cho lợi ích của BHTN.

Cả hai chuyên gia đều kỳ vọng Luật Việc làm sửa đổi có hiệu lực từ năm 2026 sẽ mở ra nhiều cơ hội hoàn thiện chính sách BHTN. Điều quan trọng là cần sớm có nghị định, thông tư hướng dẫn cụ thể, nhất là về phòng ngừa sa thải, nâng cao năng lực cho các trung tâm dịch vụ việc làm, cũng như mở rộng bao phủ cho nhóm lao động mới.

Bảo hiểm thất nghiệp – “bà đỡ” của thị trường lao động trong giai đoạn biến động - 8

Cả hai chuyên gia đều kỳ vọng Luật Việc làm sửa đổi có hiệu lực từ năm 2026 sẽ mở ra nhiều cơ hội hoàn thiện chính sách BHTN (Ảnh: Hải Long).

“BHTN đã chứng minh là một trong những chính sách nhân văn và hiệu quả nhất. Nếu được điều chỉnh kịp thời, linh hoạt hơn, đây sẽ là công cụ quan trọng để bảo vệ cả người lao động và doanh nghiệp trước những biến động ngày càng phức tạp của thị trường”, ông Trung khẳng định.