Mối đe dọa với nền kinh tế từ giá dầu và nợ công

Dân trí Cho rằng biến động của giá dầu thô, nợ công tăng nhanh và vấn đề dòng tiền đang đe dọa đến sự ổn định vĩ mô của Việt Nam, song VDSC cũng đánh giá, cơ quan điều hành đã có những bước đi khá rõ ràng để bảo vệ nền kinh tế khỏi những rủi ro bên ngoài.
>>Quy mô nợ công tăng với tốc độ trung bình 10% mỗi năm
>>Mỗi người Việt gánh hơn 34 triệu đồng nợ công năm 2018
>>Chuyên gia kinh tế: "Chi trả nợ của ngân sách vượt quá khoản thu từ dầu thô"

Nợ nước ngoài đã tăng gấp 3 lần trong 1 thập kỷ

Một báo cáo vừa mới phát hành của bộ phận phân tích Công ty chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, nền kinh tế Việt Nam sẽ chịu tác động bởi những rủi ro trung và dài hạn từ bên ngoài.

Theo đó, năm 2019, những lo ngại về lạm phát chi phí đẩy, yếu tố thường chi phối quyết định của các nhà hoạch định chính sách, sẽ là một điểm then chốt khi giá các mặt hàng cơ bản đã sẵn sàng tăng cao.

Vấn đề nợ nước ngoài ngắn hạn tăng cũng được nhấn mạnh. Nợ nước ngoài của các doanh nghiệp đang tăng đáng kể. Trong khi dòng tiền nước ngoài tăng trưởng là điều cần thiết cho nền kinh tế, Chính phủ cũng cần phải nâng cao vai trò của thị trường tài chính trong nước để hấp thụ được dòng tiền đó.

Nợ công của Việt Nam, đặc biệt là nợ nước ngoài đang gia tăng với tốc độ nhanh (ảnh minh hoạ)
Nợ công của Việt Nam, đặc biệt là nợ nước ngoài đang gia tăng với tốc độ nhanh (ảnh minh hoạ)

Hiện tại nợ nước ngoài của Việt Nam đã đạt 48% GDP, gần với hạn mức 50% GDP. Trong 10 năm qua, nợ nước ngoài của Việt Nam đã tăng gấp ba. Đáng chú ý là, nợ nước ngoài ngắn hạn của các doanh nghiệp tăng mạnh trong năm ngoái.

Trong khi đó, tỷ lệ dự trữ ngoại tệ/giá trị nhập khẩu của Việt Nam đang ở mức thấp nhất so với các quốc gia khác trong khu vực.

Tuy nhiên, VDSC cho biết, vẫn chưa ghi nhận những tín hiệu rõ ràng về kiểm soát thâm hụt ngân sách. Tỷ lệ thâm hụt ngân sách so với GDP đã tăng lên 3,7%. Đây là mức cao nhất so với các nước trong khu vực.

Hiện tại, Việt Nam được hưởng lợi từ một tài khoản vãng lai dương, chủ yếu nhờ đóng góp của các tập đoàn FDI. Điều này đang bảo vệ nền kinh tế khỏi những rủi ro bên ngoài trong ngắn hạn.

Chuyên gia VDSC đánh giá, nhận thức của Chính phủ thông qua các kế hoạch khác nhau nhằm quản lý nợ trung hạn được xem như một động thái tích cực. Một trong những động thái đáng chú ý là việc giữ các khoản vay ở mức chấp nhận được để cân bằng ngân sách nhà nước. Điều này nhằm mục đích giữ cho việc phân bổ và sử dụng các khoản vay phù hợp với mục đích ban đầu, chỉ số nợ ở mức an toàn, và đảm bảo khả năng trả nợ.

Nợ nước ngoài và thâm hụt ngân sách của Việt Nam trong tương quan với khu vực
Nợ nước ngoài và thâm hụt ngân sách của Việt Nam trong tương quan với khu vực

Mối lo lạm phát và dòng tiền

Điều quan trọng là phải theo dõi biến động tiêu dùng hộ gia đình và lạm phát, đặc biệt hiện tượng lạm phát chi phí đẩy trong bối cảnh giá dầu thô đã tăng gấp đôi kể từ 2016.

Theo phân tích của VDSC, giá dầu cao hơn sẽ tạo ra hiện tượng lạm phát chi phí đẩy và làm giảm thu nhập thực của các hộ gia đình. Hiện tại, Chính phủ đang sử dụng quỹ bình ổn giá xăng dầu để can thiệp vào thị trường xăng dầu trong nước nhằm kiểm soát giá. Giá nhập khẩu xăng dầu các loại đã tăng 20-30% so với đầu năm. Ước tính điều này đã góp phần tăng 0,9% -1,3% vào chỉ số CPI của Việt Nam trong năm 2018.

Chính phủ đang nỗ lực để giảm tác động tiêu cực từ lạm phát lên tiêu thụ nội địa, trụ cột cho nền kinh tế. Song có một vấn đề đáng lưu ý là từ năm 2019, thuế bảo vệ môi trường áp dụng cho giá dầu cũng bắt đầu có hiệu lực.

Tác động của giá dầu thô đối với nền kinh tế (nguồn: VDSC)
Tác động của giá dầu thô đối với nền kinh tế (nguồn: VDSC)

Trong khi đó, các chuyên gia phân tích VDSC lo ngại hơn về viễn cảnh tài khoản vãng lai trở nên kém tích cực hơn. Trong khi các nhà máy lọc dầu quy mô lớn bắt đầu hoạt động trong những năm gần đây, Việt Nam sẽ trở thành nước nhập khẩu năng lượng ròng trong vài năm tới do sản lượng dầu trong nước giảm. Trong 9 tháng đầu năm 2018, chi phí nhập khẩu dầu thô tăng 282% so với cùng kỳ.

Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, Việt Nam và Trung Quốc là những nước hiếm hoi mà tỷ trọng tổng giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu và trái phiếu/GDP thấp hơn tín dụng ngân hàng.

Một mặt, rõ ràng vẫn còn dư địa lớn để gia tăng quy mô thị trường vốn. Song mặt khác, nhà điều hành sẽ đối mặt nhiều áp lực hơn khi phải giải quyết cả hai vấn đề gồm tăng tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài và phát triển thị trường vốn trong nước.

Dòng vốn nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong quá trình kế hoạch phát triển thị trường vốn Việt Nam. Thời gian qua, các nhà đầu tư nước ngoài đã mua phần lớn cổ phần trong các đợt thoái vốn quy mô lớn tại các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) như Vinamilk và Sabeco. Một phần nhờ đó, cán cân tài chính của Việt Nam liên tục dương trong các quý gần đây. Trong 2 năm tới, Chính phủ cũng cam kết đẩy mạnh thoái vốn tại DNNN.

Như vậy, việc kiểm soát chặt dòng tiền ra vào thị trường thông qua hệ thống luật pháp đang trở thành rào chắn cho Việt Nam trước các rủi ro từ bên ngoài, VDSC nhìn nhận.

Bích Diệp

Mối đe dọa với nền kinh tế từ giá dầu và nợ công - 4