Đề án 1 triệu ha lúa phát thải thấp: Gặp khó trong giải ngân vốn
(Dân trí) - Nhu cầu vốn của các chủ thể tham gia Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao tại Đồng bằng sông Cửu Long lên tới gần 83.000 tỷ đồng, nhưng đến cuối năm 2025 mới giải ngân khoảng 3.100 tỷ đồng.
Theo các chuyên gia, nút thắt không hẳn nằm ở việc thiếu nguồn tiền mà chủ yếu liên quan đến năng lực tổ chức sản xuất, hồ sơ tín dụng, đầu ra sản phẩm và khả năng hình thành những vùng nguyên liệu đủ lớn, ổn định.
Cần gần 83.000 tỷ đồng nhưng mới giải ngân hơn 3.000 tỷ đồng
Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao không chỉ hướng tới thay đổi kỹ thuật canh tác, giảm phát thải mà còn đặt ra yêu cầu tổ chức lại chuỗi giá trị lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long.
Theo Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, đến tháng 6, khoảng 1.129 HTX, tổ hợp tác và hơn 210 doanh nghiệp đã tham gia Đề án. Trong đó, khoảng 600 HTX, tổ hợp tác đã hình thành liên kết sản xuất - tiêu thụ lúa gạo với doanh nghiệp. Diện tích có liên kết chiếm khoảng 60-70% tổng diện tích triển khai Đề án.
Cùng với quá trình mở rộng vùng chuyên canh, tổng nhu cầu vốn của các chủ thể được tổng hợp lên tới 82.989 tỷ đồng. Tuy nhiên, tính đến cuối năm 2025, doanh số giải ngân lũy kế mới khoảng 3.100 tỷ đồng, tương đương chưa tới 4% nhu cầu.
Khoảng cách lớn giữa nhu cầu và vốn thực tế được giải ngân cho thấy tín dụng, dù là một trong những nguồn lực quan trọng để triển khai Đề án, vẫn chưa chảy mạnh vào các vùng sản xuất.

Nhu cầu vốn của các chủ thể tham gia Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao tại ĐBSCL lên tới gần 83.000 tỷ đồng, nhưng tỷ lệ giải ngân vẫn rất thấp (Ảnh: Nam Bình).
Thực tế tại các địa phương cho thấy một trong những điểm nghẽn lớn nằm ở năng lực của HTX.
Ông Nguyễn Trần Thức, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Cà Mau, cho biết muốn vay vốn, trước hết HTX phải chứng minh được tính khả thi và hiệu quả của phương án sử dụng vốn.
Trong khi đó, nhiều HTX hiện chưa có hệ thống hồ sơ hoàn chỉnh, phương án sản xuất chưa đủ cơ sở để ngân hàng thẩm định. Khả năng chứng minh đầu ra của sản phẩm cũng là một trở ngại.
“Mặc dù đây là nguồn vốn ưu đãi, lãi suất chỉ khoảng 1% và có thể thấp hơn, nhưng đây vẫn là áp lực rất lớn, không chỉ đối với HTX mà còn liên quan đến nhiều vấn đề khác”, ông Thức nói.
Khó khăn không chỉ xuất phát từ phía người vay. Các tổ chức tín dụng cũng thiếu cơ sở để đánh giá đầy đủ hiệu quả và rủi ro của nhiều dự án.
Theo ông Thức, khi một HTX đăng ký tham gia mô hình và đề xuất vay vốn, ngân hàng phải xem xét liệu đơn vị này có đủ khả năng thực hiện đúng quy trình sản xuất để đáp ứng mục tiêu của Đề án hay không.
Chẳng hạn, một HTX có thể vay tiền để đầu tư máy móc, song tổ chức tín dụng vẫn cần xác định thiết bị sẽ được sử dụng với công suất ra sao, phục vụ diện tích bao nhiêu, quy trình vận hành được kiểm soát thế nào và khoản đầu tư có tạo ra dòng tiền đủ để trả nợ hay không.
Do đó, bài toán tín dụng không đơn thuần là ngân hàng có vốn nhưng không muốn cho vay. Vấn đề quan trọng hơn là các HTX, nông dân và doanh nghiệp phải chứng minh được khả năng sử dụng vốn hiệu quả cũng như dòng tiền để hoàn trả khoản vay.
Ông Nguyễn Tiến Định, Trưởng phòng Kinh tế hợp tác và Trang trại, Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho rằng nguyên nhân sâu xa còn nằm ở tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, phân tán.
Khi ruộng đất manh mún, nông dân sản xuất riêng lẻ, việc đồng nhất giống, quy trình canh tác, chất lượng và sản lượng trở nên khó khăn. Doanh nghiệp khó xây dựng vùng nguyên liệu ổn định, HTX khó tổ chức sản xuất quy mô lớn, còn ngân hàng khó đánh giá dòng tiền và khả năng trả nợ.
Một HTX chưa kiểm soát được vùng nguyên liệu, không có hợp đồng tiêu thụ rõ ràng hoặc chưa chứng minh được dòng tiền sẽ rất khó thuyết phục ngân hàng cấp tín dụng, kể cả khi có chương trình ưu đãi.
Điều này cũng cho thấy tín dụng chỉ có thể phát huy hiệu quả nếu đi cùng quá trình tổ chức lại sản xuất và xây dựng chuỗi liên kết giữa nông dân, HTX và doanh nghiệp.
Biến vùng nguyên liệu thành "địa chỉ đầu tư"
Theo ông Cao Thanh Bình, chuyên gia cao cấp của Ngân hàng Thế giới, khả năng huy động vốn sẽ được cải thiện đáng kể nếu các địa phương xây dựng được những vùng nguyên liệu hoàn chỉnh.
Một vùng sản xuất đã có hạ tầng, hệ thống thủy lợi, quy trình canh tác và cơ chế liên kết rõ ràng sẽ dễ trở thành “địa chỉ đầu tư” đối với doanh nghiệp, ngân hàng cũng như các định chế tài chính quốc tế.
Theo ông Bình, trong 5-10 năm tới, nhu cầu vốn của khu vực doanh nghiệp tư nhân, HTX và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp dự kiến tiếp tục tăng mạnh. Đây cũng là giai đoạn các tổ chức tài chính quốc tế mở rộng vai trò tại Việt Nam, trong đó nông nghiệp là một lĩnh vực đáng chú ý.
Ông Ali Slah, Trưởng đại diện Công ty Tài chính Quốc tế (IFC - thành viên của Nhóm Ngân hàng Thế giới (World Bank Group) tại TPHCM, cho biết trong 5 năm tới, nông nghiệp sẽ nằm trong nhóm lĩnh vực được IFC ưu tiên tại Việt Nam.

Năng lực tổ chức sản xuất, vùng nguyên liệu, đầu ra và hồ sơ tín dụng đang là những nút thắt khiến nhiều HTX, nông dân khó tiếp cận vốn vay (Ảnh: Nam Bình).
Theo kế hoạch, IFC dự kiến dành 3-5 tỷ USD mỗi năm cho các dự án liên quan đến nông nghiệp và quản lý nước. Nguồn vốn có thể được triển khai thông qua các ngân hàng thương mại, từ đó cấp vốn cho doanh nghiệp và nông dân trong chuỗi cung ứng, hoặc IFC có thể cho vay trực tiếp đối với các doanh nghiệp, tổ chức tham gia chuỗi giá trị nông nghiệp.
Tuy nhiên, việc có nguồn vốn không đồng nghĩa các chủ thể trong Đề án có thể tiếp cận ngay. Các vùng sản xuất vẫn phải đáp ứng những yêu cầu về tổ chức sản xuất, quản trị, dữ liệu, đầu ra và khả năng chứng minh hiệu quả đầu tư. Đây được xem là điều kiện quan trọng để biến nhu cầu vốn trên giấy thành những khoản vay thực tế.
Cần tận dụng chính sách hỗ trợ đất lúa
TS Trần Minh Hải, Phó Chủ tịch Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam, cho rằng bên cạnh tín dụng, doanh nghiệp và HTX cần tận dụng tốt hơn các chính sách hỗ trợ đang có, trong đó có Nghị định 112/2024 về chính sách hỗ trợ đất trồng lúa.
Theo ông Hải, diện tích lúa thông thường được hỗ trợ 2 triệu đồng/ha, trong khi diện tích thuộc Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao được hỗ trợ 3 triệu đồng/ha.
Nguồn kinh phí được bố trí từ đầu năm và chuyển về UBND cấp xã trước ngày 15/1. Khoảng 70% kinh phí được phân bổ trực tiếp về cấp xã, 30% còn lại được giữ tại các sở để thực hiện những nhiệm vụ chung.
Ngoài hỗ trợ giống, phân bón, nguồn lực này còn có thể được sử dụng cho cơ giới hóa, ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số và xây dựng liên kết sản xuất theo chuỗi.
Theo chuyên gia, nếu được khai thác hiệu quả cùng với tín dụng ngân hàng và vốn của doanh nghiệp, đây có thể trở thành nguồn lực bổ sung giúp HTX, nông dân và địa phương giảm áp lực tài chính trong quá trình triển khai Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao.





