Quy định mới của Bộ Chính trị về kỷ luật đảng viên vi phạm
(Dân trí) - Bộ Chính trị quán triệt kỷ luật tổ chức đảng phải xem xét rõ trách nhiệm của tổ chức, đồng thời xem xét trách nhiệm của từng cá nhân liên quan, nhất là trách nhiệm người đứng đầu.
Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã thay mặt Bộ Chính trị ký ban hành Quy định số 212về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm.
Quy định nêu rõ tất cả tổ chức đảng và đảng viên bình đẳng trước kỷ luật của Đảng. Tổ chức đảng và đảng viên vi phạm chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đều phải xem xét thi hành kỷ luật công minh, chính xác, kịp thời.
Những yếu tố cần căn cứ khi xem xét kỷ luật
Khi xem xét kỷ luật, Bộ Chính trị yêu cầu căn cứ vào nội dung, động cơ, tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân vi phạm, hoàn cảnh cụ thể, các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ. Ý thức, thái độ tự phê bình, tiếp thu phê bình và kết quả sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, vi phạm, hậu quả đã gây ra... cũng là những yếu tố được xem xét khi kỷ luật.

Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú (Ảnh: Phạm Thắng).
Bộ Chính trị quán triệt kỷ luật tổ chức đảng phải xem xét rõ trách nhiệm của tổ chức, đồng thời xem xét trách nhiệm của từng cá nhân liên quan, nhất là trách nhiệm người đứng đầu.
Theo quy định của Bộ Chính trị, thời hiệu kỷ luật đối với tổ chức đảng vi phạm là 5 năm (60 tháng) đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức khiển trách; 10 năm (120 tháng) đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức cảnh cáo.
Bộ Chính trị quy định không áp dụng thời hiệu kỷ luật đối với những vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức kỷ luật giải tán; vi phạm về chính trị nội bộ; vi phạm về quốc phòng, an ninh, đối ngoại xâm hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc.
Đối với đảng viên, thời hiệu kỷ luật là 5 năm (60 tháng) với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức khiển trách; 10 năm (120 tháng) đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức.
Bộ Chính trị nêu rõ không áp dụng thời hiệu kỷ luật đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức khai trừ; vi phạm chính trị nội bộ; vi phạm về quốc phòng, an ninh, đối ngoại xâm hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc; việc sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận không hợp pháp.
Về hình thức kỷ luật, Quy định của Bộ Chính trị nêu rõ với tổ chức đảng, các hình thức kỷ luật gồm: khiển trách, cảnh cáo, giải tán. Đối với đảng viên chính thức gồm: khiển trách, cảnh cáo, cách chức (nếu có chức vụ), khai trừ. Đối với đảng viên dự bị gồm: khiển trách, cảnh cáo.
Quy định số 212 xác định cụ thể các vi phạm và hình thức kỷ luật đối với tổ chức đảng; các vi phạm và hình thức kỷ luật đối với đảng viên, trong đó có các lĩnh vực về công tác tổ chức, cán bộ; về bầu cử; quản lý, sử dụng ngân sách, tài chính, tài sản của Đảng, Nhà nước; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; tài nguyên, đất đai, nhà ở…
Quy định nhiều hành vi vi phạm trong đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số
Đặc biệt, một trong những nội dung mới đáng chú ý, Bộ Chính trị quy định cụ thể việc xử lý kỷ luật đối với tổ chức đảng, đảng viên vi phạm trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Đối với tổ chức đảng, một số hành vi vi phạm gồm: không chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra việc xử lý hoặc không kịp thời xử lý tổ chức đảng, đảng viên thuộc phạm vi quản lý vi phạm chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; chỉ đạo hoặc tổ chức thực hiện các hoạt động trong lĩnh vực này trái chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Tổ chức đảng ban hành nghị quyết, chỉ thị, quy định, văn bản trái chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo hoặc thiếu trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo để tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý vi phạm hoặc không chấp hành chỉ đạo của cấp có thẩm quyền… cũng sẽ bị xem xét kỷ luật.
Đối với đảng viên, Quy định nêu các hành vi vi phạm như: cản trở, gây khó khăn cho hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số hợp pháp; nghiên cứu, phát triển, cung cấp, triển khai, xử lý, sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo trái quy định.
Hành vi thu thập, xử lý hoặc sử dụng dữ liệu để phát triển, huấn luyện, kiểm thử hoặc vận hành hệ thống trí tuệ nhân tạo trái quy định; sử dụng trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ mới để giả mạo video, hình ảnh, giọng nói, chữ ký của người khác, tạo lập, đăng tải, phát tán thông tin trái quy định… cũng được coi là vi phạm phải xem xét kỷ luật.
Quy định số 212 có hiệu lực từ 17/8, thay thế Quy định số 69 của Bộ Chính trị khóa XIII về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm và Quy định số 264 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định số 69.