“Sâu và sầu” khởi nghiệp công nghệ
Tuần này tôi tình cờ đọc được một bài báo từ năm 2002 về cậu bé nhặt rác trên kênh Nhiêu Lộc, người 20 năm sau đưa thiết bị bay không người lái (drone) “made in Vietnam” vào danh sách phê duyệt của Lầu Năm Góc.
Cậu bé ấy tên Lương Việt Quốc, sinh ra trong gia đình 9 chị em chen chúc trong căn chòi mười mét vuông cất tạm trên rạch. Từ năm 12 tuổi, đêm đêm cậu mò sình dưới lòng kênh đến một, hai giờ sáng, bàn chân tơi tả vì mảnh chai. Ước mơ xa xỉ nhất của cậu là những bữa ăn no. Nghe nói ở ngoại ô có nghề chăn bò ngày nào cũng được ăn no, cậu thấy nghề ấy sướng hơn đời mình.
20 năm sau bài báo, người đàn ông bước ra từ dòng kênh đen ấy có bằng tiến sĩ kinh tế ở Mỹ nhờ học bổng Fulbright và nhà sáng lập một công ty drone trong Khu công nghệ cao TPHCM. Thiết bị bay không người lái Hera do 50 kỹ sư toàn người Việt của ông tự thiết kế đến 90%, từ thân vỏ tới phần mềm: bỏ vừa ba lô mà nâng được 15 kg hàng. Tháng 9/2022, ba chiếc Hera đầu tiên xuất sang Mỹ, giá mỗi chiếc 25.000 tới 30.000 USD, đắt hơn hàng cùng loại tới 30%, khách vẫn mua. Rồi Hera cùng mẫu Vega vượt qua những tiêu chuẩn khắt khe của Mỹ về an ninh và chuỗi cung ứng để có thể phục vụ thị trường quốc phòng - một vị thế mà rất hiếm dòng drone mang gốc gác thiết kế từ châu Á chạm tới.

TS Lương Việt Quốc bên cạnh phát minh của mình trong các buổi bay thử nghiệm tại quốc tế (Ảnh: Huy Hậu).
Một câu chuyện “cổ tích”, nếu tôi dừng kể ở đây.
Bởi phía sau còn một chi tiết ít được nhắc. Khi ông Quốc bắt đầu, lời khuyên ông nhận nhiều nhất từ giới đầu tư trong nước là “đừng có thử”. Không quỹ nào “xuống tiền”. Tính đến năm 2022, công ty gọi được khoảng 4 triệu USD, số vốn mà theo chính ông chia sẻ là thấp hơn hàng chục lần mức cần cho những gì họ đã làm. Và đơn hàng đầu tiên của chiếc drone Việt không nằm ở Việt Nam. Nó nằm ở Mỹ, cách quê ông nửa vòng trái đất.
Tháng 7 này, Việt Nam sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, nhằm đánh giá khách quan, toàn diện kết quả triển khai Nghị quyết 57 thời gian qua, phân tích các tồn tại, hạn chế, đề ra các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới.
Nhiều đề xuất, kiến nghị đã được đưa ra tại hội nghị sơ kết hôm 1/7, trong đó đại diện Vingroup đã đề xuất 6 đột phá chiến lược nhằm thúc đẩy phát triển trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data) tại Việt Nam, gồm: Xây dựng hạ tầng dữ liệu AI quốc gia; đầu tư phát triển các mô hình AI nền tảng “Make in Vietnam”; phát triển hạ tầng tính toán AI quốc gia; đổi mới thể chế để thúc đẩy đổi mới sáng tạo; phát triển nguồn nhân lực và thu hút nhân tài AI; thúc đẩy thương mại hóa và đưa AI Việt Nam ra toàn cầu.
Theo đại diện Vingroup, để AI thực sự trở thành động lực tăng trưởng, cần hình thành các doanh nghiệp AI có quy mô khu vực và quốc tế; do vậy kiến nghị Chính phủ triển khai Chương trình Vietnam AI Global (trí tuệ nhân tạo toàn cầu của Việt Nam), hỗ trợ doanh nghiệp phát triển sản phẩm đạt chuẩn quốc tế, bảo hộ sở hữu trí tuệ, kết nối với các quỹ đầu tư và mở rộng thị trường toàn cầu. Đồng thời, cần coi khu vực công là khách hàng đầu tiên đối với các sản phẩm AI “Make in Vietnam”, tạo thị trường ban đầu để doanh nghiệp hoàn thiện công nghệ trước khi vươn ra quốc tế.
Nhìn vào các đề xuất, kiến nghị có thể thấy những tâm huyết về việc phát triển công nghệ chuyên sâu (Deep tech) - các công nghệ dựa trên những phát minh khoa học và kỹ thuật đột phá, không giống ứng dụng phần mềm thông thường. Deep tech thường đòi hỏi vốn lớn, đi đường dài, chấp nhận rủi ro cao, đổi lại là lợi thế công nghệ mà đối thủ không thể sao chép trong thời gian ngắn.
Chúng tôi thường nói đùa với nhau, trong tiếng Việt, “sâu” cách “sầu” đúng một dấu huyền. Khởi nghiệp công nghệ ở Việt Nam, như hành trình của ông Lương Việt Quốc, hay thông qua kiến nghị của các đơn vị đang tham gia phát triển khoa học công nghệ, ta có thể thấy rất nhiều khó khăn, thử thách. Nói một cách nôm na đó là những “nỗi sầu” đòi hỏi các nhà khởi nghiệp, các công ty công nghệ phải rất nỗ lực để vượt qua với sự kiến tạo, đồng hành của Nhà nước và xã hội.
Vấn đề thứ nhất mang tên vốn đầu tư. Lâu nay Việt Nam chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) chưa tới 0,5% GDP, theo số liệu Ngân hàng Thế giới; trong khi Israel chi trên 6%, Hàn Quốc xấp xỉ 5%.
Vốn mạo hiểm cũng chẳng khá hơn. Theo báo cáo Cẩm nang đầu tư vào công nghệ tiên tiến (An Investor's Guide to Deep Tech của Boston Consulting Group), công nghệ chuyên sâu hiện chiếm khoảng 20% tổng vốn đầu tư mạo hiểm toàn cầu, tăng gấp đôi so với mức 10% của một thập kỷ trước; hơn 60% số vốn ấy đổ vào Mỹ, 12% vào Trung Quốc. Còn ở Việt Nam, theo Tracxn - một nền tảng chuyên theo dõi các công ty khởi nghiệp trên toàn cầu, 218 công ty Deep tech từ trước đến nay huy động được tổng cộng 433 triệu USD, chỉ bằng một vòng gọi vốn của công ty khởi nghiệp hạng trung ở thung lũng Silicon (Mỹ). Nửa đầu năm 2025, cả nước có đúng một hợp đồng đầu tư cho Deep tech, trị giá 10 triệu USD.
Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia được đề xuất thành lập với số vốn có thể lên đến 100 triệu USD, đây là nỗ lực rất lớn nếu thành hiện thực, song cũng cần thấy rằng số vốn này chưa mua nổi một nghìn con chip huấn luyện AI đời mới.
Nhìn thấy vấn đề, Nghị quyết 57 đặt mục tiêu kinh phí chi cho nghiên cứu phát triển (R&D) đạt 2% GDP, trong đó kinh phí từ xã hội chiếm hơn 60%; bố trí ít nhất 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và tăng dần theo yêu cầu phát triển.
Đã có những chuyển động tích cực trong việc huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư cho phát triển khoa học, công nghệ thời gian gần đây, tuy nhiên, vẫn rất cần những giải pháp để tiếp tục khuyến khích nguồn lực từ xã hội – đây là nguồn lực được xác định là kinh phí từ xã hội chiếm hơn 60% trong mục tiêu 2% GDP cho nghiên cứu phát triển. Làm sao để những người khởi nghiệp như ông Lương Việt Quốc không vấp phải bức tường “đừng có thử” từ giới đầu tư.
Một bài học kinh nghiệm: Israel năm 1993 lập quỹ Yozma vỏn vẹn 100 triệu USD, nhưng thiết kế thông minh khi nhà nước góp tối đa 40% vào các quỹ mạo hiểm tư nhân, thành công thì cho tư nhân mua lại phần vốn nhà nước. Mồi nhỏ, đòn bẩy lớn. Từ đó góp phần hình thành cả một nền công nghiệp đầu tư mạo hiểm của “quốc gia khởi nghiệp” này.
Vấn đề thứ hai là xóa bỏ rào cản hay còn gọi là những “vòng luẩn quẩn” trong cơ chế, chính sách hỗ trợ, phát triển khoa học công nghệ theo tinh thần của Nghị quyết 57. Với nhiều công ty khởi nghiệp, vòng luẩn quẩn nằm ở chỗ nhà đầu tư không “xuống tiền” vì không nhìn thấy “đường ra” thị trường. Đường ra hẹp vì thị trường không mua. Thị trường không mua vì công ty khởi nghiệp - thường là các đơn vị mới thành lập - bị đánh giá thiếu kinh nghiệm. Để cung cấp một dịch vụ công nghệ vào khu vực công, nếu hồ sơ chấm thầu đòi hỏi kinh nghiệm thì chắc chắn công ty khởi nghiệp chỉ có ba năm tuổi sẽ bị loại từ “vòng gửi xe”.
Chúng ta hình dung công ty SpaceX của tỷ phú Elon Musk, thuở mới thành lập làm sao có thể nộp hồ sơ đến Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Hoa Kỳ (NASA) để xin phóng tên lửa nếu đầu vào của hồ sơ đòi hỏi “có kinh nghiệm”.
Không dựa vào kinh nghiệm không đồng nghĩa với dễ dãi, mà phải bằng các tiêu chí khác thực chất hơn. Chính vì vậy, việc Nhà nước đóng vai “khách hàng đầu tiên” cho sản phẩm công nghệ nội địa có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo đường ra thị trường và “bà đỡ” cho khởi nghiệp công nghệ. Công ty khởi nghiệp của ông Lương Việt Quốc sống sót vì sản phẩm Hera tìm được đơn hàng ở thị trường Mỹ, chứ không phải ở quê nhà. Nếu một công ty khởi nghiệp khác dù có sản phẩm triển vọng nhưng không gặp may mắn như vậy thì sao?
Nhà nước kiến tạo. Doanh nghiệp tiên phong. Ở đây lợi ích chung và lợi ích riêng không loại trừ nhau mà tạo thành một hệ sinh thái đột phá phát triển trên cơ sở minh bạch, cạnh tranh công bằng, hiệu quả.
Từ cách tiếp cận trên, có ba việc cần làm cùng lúc:
Thứ nhất, nguồn lực đầu tư phải là “vốn kiên nhẫn”, loại vốn chịu được cảnh “nằm im” nhiều năm thay vì đòi thu hồi ngay khi chiếc drone còn chưa kịp cất cánh.
Thứ hai, phải tạo ra một thị trường đầu tiên có thật cho sản phẩm công nghệ trong nước: một gói mua sắm công minh bạch, chọn nhà cung cấp dựa trên các tiêu chí kỹ thuật rõ ràng chứ không dựa vào quan hệ.
Thứ ba, thất bại phải được xem là chi phí nghiên cứu, chứ không phải là một cái tội. Đây cũng chính là tinh thần “Chấp nhận rủi ro, đầu tư mạo hiểm và độ trễ trong nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo” đã được nêu trong Nghị quyết 57.
Kênh Nhiêu Lộc hôm nay đã xanh lại. Từ chính dòng kênh ấy, cậu bé mò sình năm xưa đã chế ra được những chiếc drone chất lượng hàng đầu thế giới. Còn bao nhiêu cậu bé khác đang mang ước mơ và khát khao được hỗ trợ để vượt qua những “nỗi sầu” để nghiên cứu, để khởi nghiệp thành công, đóng góp cho sự vươn vai về khoa học công nghệ của đất nước.
Tác giả: Anh Đỗ Sơn Tùng hiện là Nghiên cứu sinh ngành Dữ liệu lớn tại Đại học Chung-Ang, Hàn Quốc. Lĩnh vực nghiên cứu của anh là áp dụng trí tuệ nhân tạo trong các bài toán viễn thông, thị giác máy tính và truyền thông lượng tử.
Chuyên mục TÂM ĐIỂM mong nhận được ý kiến của bạn đọc về nội dung bài viết. Hãy vào phần Bình luận và chia sẻ suy nghĩ của mình. Xin cảm ơn!







