(Dân trí) - Giữa những năm tháng bom đạn, khi máy móc còn là xa xỉ, một bác sĩ Việt Nam chỉ với chiếc ống nghe đã chẩn đoán chính xác những ca bệnh phức tạp, góp phần làm nên kỳ tích của nền y học nước nhà.


Giáo sư Tôn Thất Tùng từng nói ông không thể yên tâm mổ tim nếu thiếu chẩn đoán của GS Đặng Văn Chung.
Câu nói về sau được nhiều thế hệ nhắc lại như một minh chứng vừa ngắn gọn vừa đủ sức nặng về tầm vóc chuyên môn của người thầy thuốc đã đặt nền móng cho nền nội khoa Việt Nam hiện đại.
Sự tin tưởng ấy không phải lời tán dương xã giao giữa hai danh y. Nó gắn với một dấu mốc chói lọi của y học nước nhà, khi chẩn đoán của GS Đặng Văn Chung góp phần quan trọng vào thành công của ca mổ tim đầu tiên của Việt Nam vào năm 1958.
Giáo sư Đặng Văn Chung sinh năm 1913, mất năm 1999, là nhà y học hàng đầu của Việt Nam ở thế kỷ 20. Người đặt nền móng cho nền nội khoa Việt Nam chỉ dựa chủ yếu vào các triệu chứng lâm sàng một cách chính xác, phối hợp với một số xét nghiệm cận lâm sàng đơn giản.
Con đường đến với ngành y của ông bắt đầu từ một lựa chọn rất giản dị. Ông không thích học các ngành khác, bởi học xong nhiều khả năng sẽ phải đi làm chức quan cho chính quyền Pháp.
Khi bước chân vào Trường Đại học Y Dược Đông Dương, rồi tận mắt chứng kiến nỗi đau của người bệnh, nhất là những bệnh nhân nghèo, ông sớm xác định nghề y với mình không chỉ là một lựa chọn mưu sinh.
Ngày 28/7/1938, ông cẩn thận chép lời thề Hippocrates vào nhật ký như một cách tự nhắc nhở về trách nhiệm nghề nghiệp.

Ông luôn tâm niệm: “Ngành y có quan hệ mật thiết với sinh mạng của con người, lúc học nghề học trên con người, lúc hành nghề trên con người, lúc sống nhờ người bệnh”.
Ông là một trong những bác sĩ tham gia xây dựng ngành y tế Việt Nam từ những ngày đầu cách mạng như GS Tôn Thất Tùng, GS Đỗ Xuân Hợp, GS Hồ Đắc Di, GS Nguyễn Trinh Cơ...
Năm 1954, Giáo sư Đặng Văn Chung được trao nhiệm vụ xây dựng Bộ môn Nội Trường Đại học Y Hà Nội, giảng dạy, đào tạo các thế hệ thầy thuốc.
Giáo sư đã tự nguyện xin thôi chức Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Y Dược Hà Nội mà chỉ đảm nhiệm chức vụ Chủ nhiệm Bộ môn Nội Trường Đại học Y Hà Nội, Tổng Chủ nhiệm Khoa Nội Bệnh viện Bạch Mai, nhằm tập trung chuyên tâm vào việc đào tạo, giảng dạy và khám chữa bệnh cho nhân dân.

Giới y khoa từng truyền nhau câu chuyện về chiếc ống nghe của GS Đặng Văn Chung.
“Các nước dùng phương tiện hiện đại để chẩn đoán, còn thầy không có phương tiện gì, chỉ có ống nghe, nghe khắp nơi (tim, bụng, lưng hoặc cổ) mà tìm ra bệnh.
Cũng với cái ống nghe ấy, người khác nghe không phát hiện được gì, nhưng thầy nghe là biết ngay được đó là bệnh gì”, GS.TS Nguyễn Khánh Trạch, nguyên Trưởng khoa Tiêu hóa Bệnh viện Bạch Mai, từng nói về khả năng chẩn đoán tài tình ở người thầy của mình.
Ông chỉ dựa chủ yếu vào các triệu chứng lâm sàng chính xác, phối hợp với một số xét nghiệm cận lâm sàng đơn giản mà có thể chẩn đoán đúng nhiều bệnh phức tạp.

Các phát hiện đầu tiên của ông về bệnh gout, tim to, hạ đường huyết do u tụy, những tiêu chuẩn hẹp van hai lá có chỉ định mổ tách van, sử dụng chất chiết từ lá trúc đào để điều trị bệnh suy tim… đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
Theo GS Trạch, là thầy thuốc lâm sàng nhưng GS Chung tự tay mổ hàng nghìn thi thể. Thầy mổ ban ngày, có khi mổ cả ban đêm, với một niềm say mê. Thầy tìm thấy ở những thi thể đó biết bao nhiêu kinh nghiệm, bài học quý giá. Thầy muốn những thi thể xấu số đó nói lên tiếng nói của sự thật vô cùng quý giá để giúp ích cho đời.
GS Đặng Văn Chung từng nói: “Đừng quá tin vào máy móc; chẩn đoán phải dựa trên những dấu hiệu xác thực, chính xác, đầy đủ nhất; không được dựa trên cảm giác, cảm tính, phải bám sát theo dõi bệnh nhân đến cùng”.


“Máy bay địch cách Hà Nội 10km về phía Đông. Yêu cầu đồng bào xuống hầm trú ẩn”.
Tiếng báo động vang lên ở Bệnh viện Bạch Mai trong một ngày cuối tháng 12/1972.
Từ căn phòng làm việc của mình, GS Đặng Văn Chung, lúc này đã ngoài 60 tuổi, lần theo lan can xuống tầng hầm trú ẩn.
Sau tiếng bom B-52 rền từng đợt dài, ngỡ mọi chuyện đã qua, bỗng có tiếng rú chói tai của máy bay cường kích chiến thuật.
Tầng hầm rung lên. Quả bom nổ chỉ cách 10m xô GS Chung ngã nhào.
Sau trận bom, trở lại phòng làm việc trên lầu một, Giáo sư đứng sững nhìn hàng trăm trang bản thảo của một tập giáo trình vừa được chỉnh sửa xong, bay khắp bốn phương tám hướng; một số trang bay cả qua cửa sổ, rơi lả tả xuống mảnh vườn hoa vừa bị bom cày xới.
Tường thuật của nhà báo Hàm Châu phần nào khắc họa sự bi hùng của 12 ngày đêm Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không, cũng như tinh thần bất khuất của những blouse trắng quyết ở lại Thủ đô vì người bệnh.

Sau trận bom hôm ấy, đêm 22/12/1972, Mỹ còn dùng máy bay chiến lược B-52 dội bom trải thảm. Tòa nhà A9, tòa nhà chính nhìn ra cổng bệnh viện, đứt thành mấy khúc.
Dãy nhà Khoa Da liễu và Khoa Tai Mũi Họng đổ sập cả mấy tầng, từ mái bằng sân thượng đến tận móng bê tông không một mảng nào còn nguyên vẹn.
Bệnh viện trúng bom, nhưng GS Chung may mắn an toàn. Mấy tập giáo trình nội khoa được ông chỉnh sửa lần cuối, ngay trong những ngày bom rền ấy...
Trong những năm chiến tranh phá hoại, GS Đặng Văn Chung chọn ở lại thành phố, chữa chạy cho những bệnh nhân nguy kịch ở Bệnh viện Bạch Mai và cấp cứu chiến thương, cùng góp sức với các cán bộ, chiến sĩ và nhân dân Thủ đô làm nên trận “Điện Biên Phủ trên không”.
“Không được dự trận Điện Biên Phủ năm nào cùng GS Tôn Thất Tùng trong hầm quân y dã chiến giữa thung lũng Mường Phăng, nhưng giờ đây, GS Đặng Văn Chung hãnh diện được cùng người bạn ấy dự trận ‘Điện Biên Phủ trên không’, giữa lòng Hà Nội hiên ngang bắn rụng hàng tá ‘siêu pháo đài bay’, ‘cánh cụp cánh xòe’...”, nhà báo Hàm Châu ghi.

Trong bài viết của mình về cây đại thụ của ngành Nội khoa Việt Nam, GS.TS Ngô Quý Châu, chuyên gia hàng đầu lĩnh vực Nội Hô hấp, ghi:
Trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn và thiếu thốn của những năm 1970 của thế kỷ trước, GS Đặng Văn Chung đã dành nhiều công sức và trí tuệ để viết 2 cuốn “Bệnh học Nội khoa”, “Điều trị học” cũng như hàng loạt tài liệu giảng dạy, công trình nghiên cứu khoa học có giá trị. Những phút ngớt bom rơi, ông ngồi sửa chữa, bổ sung bản thảo sách.
Những cuốn sách này chứa đựng những kiến thức và kinh nghiệm lâm sàng cực kỳ quý giá, được coi như “sách gối đầu giường” của nhiều thế hệ sinh viên Trường Đại học Y. Các cuốn sách đó vẫn được các thế hệ thầy trò các bộ môn hệ nội cập nhật và sử dụng giảng dạy.
Bản thân GS Đặng Văn Chung có một quan niệm rất rõ ràng về khoa học. Ông cho rằng, nghiên cứu khoa học là bằng phương pháp khoa học, tìm ra cái mới, xác minh cái cũ, cải tiến, đổi mới, nâng cao kiến thức chuyên môn khoa học và kỹ thuật.

Cách định nghĩa ấy phản ánh đúng con đường ông đi suốt đời. Khoa học, với ông, không phải thứ tách rời thực hành. Nó phải bắt đầu từ vấn đề của người bệnh, từ thực tế khám chữa bệnh, từ những câu hỏi đặt ra mỗi ngày trong bệnh viện.
Theo GS.TS Nguyễn Khánh Trạch, với cách làm cẩn thận, tỉ mỉ, soi xét từng vấn đề nhỏ, tư duy đến tận cùng, hồ sơ bệnh án của nhiều bệnh nhân được thầy điều trị có thể ví như một công trình nghiên cứu đồ sộ và có giá trị khoa học cao.
Cũng vì thế, hơn nửa thế kỷ gắn bó với ngành nội khoa, ông không chỉ để lại danh tiếng của một bác sĩ giỏi, mà còn để lại một khối lượng công trình đồ sộ phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu.
Cụm công trình “Nghiên cứu nội khoa” của ông, gồm 14 công trình như “Giải đáp bệnh tim mạch”, “Bệnh học nội khoa”, “Bệnh cao huyết áp” cùng nhiều bài báo khoa học trong và ngoài nước, đã được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2000.

Theo GS Phạm Khuê, “phó tướng” của GS Đặng Văn Chung, hầu hết các thầy thuốc nội khoa ở nước ta, từ các cán bộ giảng dạy đại học, trung học y dược đến các bác sĩ điều trị tại các bệnh viện ở miền Bắc cũng như ở miền Nam, đều là học trò của GS Đặng Văn Chung; có người được học trực tiếp, có người học qua sách.
“Người bệnh chỉ có thể chết vì bệnh quá nặng, chứ không thể chết vì sự vô trách nhiệm của người thầy thuốc”.
Lời nhắc nhở của vị bác sĩ dành trọn đời cho người bệnh đến nay vẫn còn nguyên sức nặng, như một chuẩn mực nghề nghiệp và đạo đức với nhiều thế hệ y bác sĩ Việt Nam.
Trải qua hơn 60 năm cống hiến, Giáo sư Đặng Văn Chung đã đảm nhiệm nhiều trách nhiệm, vị trí quan trọng trong ngành y tế như khám chữa bệnh, bảo vệ sức khỏe cho các cán bộ cấp cao của Đảng, Chính phủ, Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học Kỹ thuật của Bộ Y tế, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội, Trưởng Bộ môn Nội và Chủ nhiệm Khoa Nội Bệnh viện Bạch Mai.
Lúc sinh thời, Giáo sư Đặng Văn Chung đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Lao động hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, danh hiệu Thầy thuốc Nhân dân và Nhà giáo Nhân dân cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.











