Đám cưới không áo hoa dưới họng súng kẻ thù của nữ y sĩ rừng xanh
(Dân trí) - Nén nỗi đau riêng để dấn thân vào vùng chiến sự, nữ y sĩ cùng người bạn đời giữ trọn tình yêu trong những năm tháng chiến tranh cho đến ngày đất nước thống nhất.
Cuộc gặp gỡ tại căn cứ Lò Gò
Giữa tháng 10/1967, vùng căn cứ Lò Gò (Tây Ninh) trở thành địa điểm tập kết bí mật của nhiều đoàn đại biểu về tham dự hội nghị học tập Nghị quyết Quang Trung.
Hội nghị do cơ quan A1 (thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam) tổ chức là sự kiện đặc biệt quan trọng. Với sự hiện diện của các nhà lãnh đạo cốt cán như đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phan Văn Đáng và Trần Bạch Đằng, hội nghị xác định Sài Gòn - Gia Định là trọng điểm tiến công chủ yếu nhằm giành thắng lợi quyết định trong thời gian ngắn.
Trong bối cảnh đó, cô y sĩ trẻ Huỳnh Thị Minh Tâm được điều động phục vụ y tế cho hội nghị. Tại đây, bà đã gặp ông Phan Anh Điền, cán bộ Khu đoàn Sài Gòn - Gia Định, người đang học tập chuẩn bị cho Chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Bác sĩ Huỳnh Thị Minh Tâm chụp cùng ông Phan Anh Điền (Ba Khắc) tại căn cứ trong thời gian diễn ra Hội nghị Bình Giã, tháng 5/1972 (Ảnh: Nhân vật cung cấp).
Họ quen nhau trong một hoàn cảnh mà sau này bà Tâm vẫn gọi là “khá đặc biệt”. Khi ấy, ông Điền bị thương ở lưng và cánh tay trái.
Dưới sự hướng dẫn của bác sĩ Nguyễn Hồng Điều, hằng ngày bà Tâm ân cần chăm sóc cho người cán bộ trẻ. Những lần tiếp xúc khiến hai người dần nảy sinh cảm mến.
Sau một tháng, bà Tâm bất ngờ nhận lệnh trở về cơ quan thực hiện nhiệm vụ mới. Buổi chia tay diễn ra vội vã ngay tại lán trại.
Ông Điền nhìn cô y sĩ trẻ, giọng đầy quả quyết nhưng không giấu nổi vẻ bồn chồn:
- Ngày giải phóng miền Nam, tôi sẽ kể cho chị nghe một chuyện.
Nghe câu nói ấy, bà Tâm nén tiếng thở dài, nhẹ nhàng đáp lại vì hiểu sự khốc liệt của chiến trường:
- Biết còn gặp lại nhau không để nghe anh kể chuyện...
Đáp lại những lo âu về sự khốc liệt của chiến trường, ông nắm chặt tay bà Tâm thổ lộ: “Tôi nói thiệt là tôi thương chị, tôi về sẽ báo cáo với cơ quan và chị cũng báo cáo với cơ quan của chị nhé!”.

Bức ảnh thời công tác tại Ban Dân y Trung ương Cục miền Nam năm 1967 của bác sĩ Tâm tặng ông Điền trong lần chia tay, được ông gìn giữ bên mình suốt những năm tháng sau đó (Ảnh: Nhân vật cung cấp).
Trước lời tỏ tình chân thành, bà Tâm chọn cách im lặng. Thời điểm đó, các chiến sĩ đều đặt nhiệm vụ chung lên trên hết, nghiêm túc chấp hành phong trào “ba khoan” của Chi đoàn: “Nếu chưa yêu thì khoan yêu, nếu đã yêu thì khoan cưới, nếu đã cưới thì khoan có con”.
Đám cưới “nghi trang” cách đồn giặc 500m
Mùa xuân năm 1968, y sĩ Minh Tâm cùng đoàn quân “áo trắng” tiến vào nội đô Sài Gòn. Tại địa bàn Phân khu 6 (cánh Tây Nam), bà vừa thực hiện nhiệm vụ cứu thương tại hỏa tuyến, vừa tìm kiếm tin tức về người đồng chí Phan Anh Điền.
Tuy nhiên, chiến trường khốc liệt đã đẩy gia đình bà vào những biến cố dồn dập. Tháng 1/1970, người đồng chí thân thiết Nguyễn Thái Sơn hy sinh, ngay sau đó má của bà cũng bị địch bắt giam khi vừa đặt chân đến xa cảng Miền Tây do bị chỉ điểm.

Bác sĩ Tâm cùng chồng viếng mộ chú Nguyễn Thái Sơn (Bảy Bình) tại Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố Hồ Chí Minh (Ảnh: Nhân vật cung cấp).
Trong hoàn cảnh ngặt nghèo, bà bất ngờ nhận được lá thư gửi từ trường Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho). Dù tên người gửi được ghi là Phan Ái Đình, nhưng nét chữ thân thuộc cùng các ám hiệu quy ước bí mật đã giúp người cán bộ nội thành nhận ra đó chính là thư của người yêu mình.
Vượt qua sự kiểm soát gắt gao của kẻ thù, bà Tâm thực hiện chuyến xe đò từ Sài Gòn xuống Châu Thành (Bến Tre). Tại bến đò xã Quới Sơn, hai người hội ngộ.
Ông Điền đưa bà về căn cứ - một khu vực chiến sự phức tạp, nơi lực lượng ta và địch ở thế cài răng lược, chỉ cách đồn giặc chừng 500m.
Tại đây, bà Tâm được tận mắt chứng kiến cuộc sống bền bỉ của các cánh quân T4 khi họ phải đóng quân tại nhà dân và sẵn sàng xuống hầm bí mật mỗi khi giặc mở cuộc càn quét.
Sau 2 năm bám trụ nội thành, đến tháng 2/1970, do cơ sở bị lộ nên bà Tâm được lệnh rút về chiến khu công tác tại Văn phòng Thành ủy bên dòng sông Sở Thượng.
Trong bối cảnh chiến tranh cục bộ đang chuyển sang chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh đầy tàn khốc, các đơn vị của ta phải di chuyển căn cứ qua nhiều địa phương như Mỹ Tho, Bến Tre và Trà Vinh rồi cuối cùng dạt về vùng biên giới Campuchia.

Chăm sóc thương binh trên xuồng trong rừng tràm sát vùng chiến sự tại Cần Giuộc, Long An (Ảnh: Nhân vật cung cấp).
Trong gian khổ, lãnh đạo đơn vị - trực tiếp là đồng chí Trần Bạch Đằng, đã bàn bạc cùng gia đình tổ chức đám cưới cho hai người. Hôn lễ không chỉ là kết quả của tình yêu thủy chung mà còn là phương án tổ chức để bà Tâm có tư cách pháp lý ở lại đơn vị của ông Điền, phục vụ nhiệm vụ lâu dài.
Ngày 28/8/1970, một lễ cưới đặc biệt đã diễn ra tại ấp Phú Thành thuộc xã Quới Sơn tỉnh Bến Tre ngay dưới tầm mắt của kẻ thù. Đồng chí Trần Bạch Đằng đã gửi thư nghi trang kèm 3.000 đồng để đơn vị lo liệu công việc cho đôi trẻ.
Buổi lễ diễn ra ấm cúng với sự hiện diện của những người thân từ Củ Chi xuống dự trong sự che chở của tập thể và bà con địa phương. Thay cho sính lễ, ông Điền tặng vợ bài thơ được viết bằng cả trái tim của người chiến sĩ:
“Anh viết tặng em, bài thơ ngày cưới
Rất rộn ràng, sôi nổi tim anh
Với tình yêu đôi lứa tuổi còn xanh
Vẫn đẹp mãi theo mùa thu kháng chiến
Lòng chăm sóc bao la như trời biển
Đảng dắt dìu từng bước ta đi
Em nhớ lấy khắc ghi trong dạ
Xây tình tươi thắm mãi nghe em
Quà anh trao không áo cưới hoa hồng
Theo đưa đón không phù dâu, phù rể
Đủ lắm rồi có tập thể quanh ta
Cô y tá rừng xanh
Yêu anh chiến sĩ nội thành...”
Hạnh phúc sau ngày cưới chỉ kéo dài vỏn vẹn một tháng trong tiếng pháo cầm canh và những cuộc hành quân lục soát liên miên của địch. Nhận thấy sự hiện diện của mình có thể gây ảnh hưởng đến công việc chung của đơn vị chồng, bà Tâm đã chủ động gói ghém niềm riêng, xin trở về cơ quan cũ.
“Nếu không trở về, hãy để con biết mặt mẹ qua cuốn album”
Giữa những năm tháng khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến, người chiến sĩ không chỉ đối mặt với hỏa lực kẻ thù mà còn phải vượt qua những cuộc chia ly.
Sau hơn 8 tháng bám trụ bên dòng sông Sở Thượng, khi ngày vượt cạn cận kề, y sĩ Minh Tâm nhận lệnh rời căn cứ để trở về quê chồng tại Củ Chi.
Đêm trước ngày con gái về lại vùng địch hậu, mẹ bà đã đến thăm và dặn dò tỉ mỉ. Từ việc vệ sinh da đến cách chăm sóc tai mũi họng cho trẻ sơ sinh đều được bà hướng dẫn cẩn thận. Trước lúc chia tay, bà không quên nhắc con gái phải luôn bảo trọng khi sống trong lòng địch.
Thử thách thực sự đến khi con trai Việt Dũng tròn 2 tháng tuổi. Để đảm bảo đúng kế hoạch trở lại đơn vị, bà Tâm buộc phải quyết định cho con thôi bú sớm.
Chứng kiến đứa cháu đỏ hỏn đang bụ bẫm nhờ bầu sữa mẹ, người thân không khỏi xót xa và khuyên bà ở lại thêm. Tuy nhiên, bà Tâm chỉ biết nghẹn ngào thưa cùng gia đình: “Con không thể trễ hẹn với tổ chức”.
Quá trình dứt sữa trở thành nỗi đau ám ảnh. Do ngắt quãng đột ngột, hai bầu vú căng tức gây nên những cơn sốt cao, đau nhức lan khắp cơ thể khiến bà không thể tự tay bồng con.
Trong khi người thân thay nhau đút từng muỗng sữa hộp tập cho bé bú bình, người mẹ trẻ phải nằm vật lộn với cơn đau tắc sữa kéo dài nhiều ngày. Chỉ đến khi thấy con dần quen với sữa ngoài và bắt đầu tăng cân, bà Tâm mới tạm yên lòng chuẩn bị cho cuộc chia ly.
Ngày bồng con về gửi lại nhà nội ở Củ Chi để lên đường sang biên giới Việt Nam - Campuchia, không khí gia đình trở nên nặng nề. Thương cháu nhỏ sớm xa mẹ, người thân không tránh khỏi những lời trách móc trong lúc xót lòng.
Dù lòng đau như cắt nhưng bà Tâm không hề oán giận bởi bà hiểu đó là tình thương bao la của gia đình dành cho mẹ con bà.
Trong giờ phút chia tay, bà gửi lại cuốn album tập hợp những tấm hình thời son trẻ từ lúc ở chiến khu đến khi công tác nội đô.
“Nếu sau này đất nước giải phóng mà con không thể trở về, hãy cho Việt Dũng xem những tấm ảnh này để cháu biết mặt mẹ”, người mẹ trẻ dặn dò.

Bức ảnh của bác sĩ Tâm được chụp khi mới vào nội thành Sài Gòn công tác cuối năm 1968 (Ảnh: Nhân vật cung cấp).
Lời dặn ấy như một lời gửi gắm sau cùng, khiến cả nhà bật khóc vì thương hoàn cảnh mẹ xa con giữa thời chinh chiến. Nén lại nỗi đau riêng, người nữ y tá rời quê hương, tiếp tục dấn thân vào vùng chiến sự vì nhiệm vụ chung của dân tộc, để lại sau lưng tình mẫu tử thiêng liêng chờ ngày hòa bình.
Hạnh phúc vẹn tròn sau cơn bão lửa
Ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, bà Tâm trở về trong vòng tay ấm áp của gia đình và bà con lối xóm.
Khép lại những năm tháng chia ly, người nữ chiến sĩ năm xưa nay bắt đầu hành trình mới.
Nhìn lại chặng đường đã qua, bà Tâm luôn dành sự tri ân sâu sắc cho những người phụ nữ bên gia đình chồng. Giữa thời chiến đầy rẫy hiểm nguy và nghi kỵ, chính sự bao bọc của dòng họ và tình yêu thương của người dân Củ Chi đã giúp con trai Việt Dũng lớn lên bình an.
Bà đặc biệt xúc động khi nhắc đến cô Năm - người phụ nữ dù chưa một lần sinh con nhưng đã dành cả cuộc đời để nuôi dưỡng, che chở cho các thế hệ cháu con trong nhà.
“Sự hy sinh của má chồng, cô Ba Cẩm và cô Năm là điều tôi không bao giờ quên. Nhờ các má, các cô mà Việt Dũng được lớn lên trong tình thương, còn tôi có thể yên tâm làm nhiệm vụ”, bà Tâm bộc bạch.
Chính sự hy sinh thầm lặng của những người phụ nữ ở hậu phương đã vun đắp và chắp cánh cho các con của bà một tình yêu quê hương cùng sự gắn bó sâu sắc với nguồn cội.


Hơn nửa thế kỷ gắn bó, gia đình của bà Minh Tâm và ông Phan Anh Điền giờ đây đã viên mãn với ba người con: Việt Dũng, Tâm Chí và Thanh Thu. Nhắc đến người bạn đời, nữ y sĩ ngày nào vẫn giữ trọn sự trân trọng:
“Suốt những năm tháng chung sống, anh Điền luôn thấu hiểu và ủng hộ công việc của tôi. Có lúc tôi phải đi công tác xa, khi ở các tỉnh phía Nam, khi ra Hà Nội, nhưng anh chưa bao giờ than phiền. Vợ chồng mỗi người một tính cách, nhưng chúng tôi giữ được mái ấm nhờ biết đặt mình vào vị trí của nhau”, bà kể.

Đại gia đình của bác sĩ Huỳnh Thị Minh Tâm sum họp bên nhau (Ảnh: Nhân vật cung cấp).
Khép lại những trang ký ức đầy biến động, bà Tâm tin rằng cuộc đời mình và sự gắn kết bền bỉ với người bạn đời chính là bài học quý giá nhất dành cho con cháu.
Bước qua khói lửa chiến tranh, bà Tâm hy vọng các thế hệ mai sau sẽ luôn biết trân trọng giá trị của tình yêu, nuôi dưỡng lòng biết ơn để tìm thấy hạnh phúc thực sự bên những người thân thương.









