Bác sĩ Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình cứu 2 ca đột quỵ

(Dân trí) - Hai bệnh nhân được đưa đến Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình trong tình trạng nói khó, yếu nửa người. Với lợi thế về khoảng cách địa lý, các bác sĩ đã kịp thời can thiệp cứu não hai người bệnh.

Lợi thế "thời gian vàng"

Ngày thứ 2 đi vào hoạt động, các bác sĩ của Trung tâm Đột quỵ - Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình đã liên tiếp cấp cứu thành công hai bệnh nhân nhồi máu não cấp bằng các kỹ thuật tái thông mạch hiện đại.

Trường hợp đầu tiên là nam bệnh nhân 72 tuổi, trú tại Đồng Văn, Ninh Bình. Người bệnh đột ngột xuất hiện nói khó, liệt nửa người và được gia đình đưa đến cấp cứu tại Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình.

BS Vương Xuân Trung, Trung tâm Đột quỵ - Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình cho biết, ngay khi tiếp nhận bệnh nhân, ê-kíp nhanh chóng kích hoạt quy trình báo động đột quỵ. Kết quả xác định người bệnh bị nhồi máu não cấp do tắc động mạch não giữa trái.

Bác sĩ Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình cứu 2 ca đột quỵ  - 1

Bác sĩ kiểm tra phản xạ của bệnh nhân sau can thiệp (Ảnh: Thế Anh).

Ngay lập tức, các bác sĩ chỉ định truyền thuốc tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch.

"Chỉ 25 phút sau khi nhập viện, thuốc đã được sử dụng. Đồng thời, Trung tâm Đột quỵ phối hợp với Trung tâm Điện quang can thiệp tiến hành lấy huyết khối cơ học, với thời gian từ khi vào viện đến khi chọc động mạch đùi chỉ 40 phút.

Sau can thiệp, người bệnh cải thiện rõ rệt về thần kinh, giảm liệt và giảm tình trạng thất ngôn so với thời điểm nhập viện", BS Trung cho biết.

Trường hợp thứ hai là bệnh nhân nam 65 tuổi, trú tại Liêm Hà, Ninh Bình. Sau khi ngủ dậy, người bệnh xuất hiện nói khó và yếu nửa người.

Khi được đưa đến Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình, bệnh nhân được xác định là bị đột quỵ khi thức giấc.

Kết quả chẩn đoán xác định bệnh nhân bị nhồi máu não bán cầu phải và vẫn còn chỉ định điều trị bằng thuốc tiêu sợi huyết.

Chỉ 25 phút sau khi nhập viện, người bệnh được truyền thuốc tiêu sợi huyết. Sau điều trị, các triệu chứng thần kinh cải thiện rõ, khả năng vận động và ngôn ngữ tiến triển tích cực.

BS Trung cho biết, cả hai trường hợp đều là người địa phương, được đưa đến bệnh viện rất sớm sau khi xuất hiện triệu chứng.

"Trong điều trị đột quỵ, mỗi phút trôi qua đều có hàng triệu tế bào não bị tổn thương. Việc người bệnh được đưa đến bệnh viện sớm giúp chúng tôi có đủ thời gian để đánh giá, chỉ định đúng phương pháp điều trị và triển khai tái thông mạch trong "thời gian vàng". Đó là yếu tố quan trọng nhất quyết định khả năng hồi phục của người bệnh", BS Trung chia sẻ.

Theo GS.TS. Mai Duy Tôn, Giám đốc Trung tâm Đột quỵ, Bệnh viện Bạch Mai, kết quả điều trị của hai bệnh nhân cho thấy quy trình cấp cứu đột quỵ tại cơ sở Ninh Bình đã được triển khai đồng bộ theo tiêu chuẩn của Trung tâm Đột quỵ Bệnh viện Bạch Mai.

"Não bộ mất hàng triệu tế bào thần kinh sau mỗi phút mạch máu não bị tắc. Vì vậy, mục tiêu quan trọng nhất là rút ngắn tối đa thời gian từ khi người bệnh đến bệnh viện đến khi được tái thông mạch. Việc truyền thuốc tiêu sợi huyết trong 25 phút và chọc mạch lấy huyết khối sau 40 phút là những mốc thời gian rất tích cực, phản ánh sự phối hợp hiệu quả giữa cấp cứu, chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm, can thiệp và hồi sức", chuyên gia thông tin.

Nhiều chuyên khoa mũi nhọn

Đánh giá về những ca cấp cứu đầu tiên tại cơ sở mới, PGS.TS Đào Xuân Cơ, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai cho biết, mục tiêu khi đưa cơ sở Ninh Bình vào hoạt động là đưa các chuyên khoa mũi nhọn như đột quỵ, tim mạch, hồi sức cấp cứu, ngoại khoa và chẩn đoán hình ảnh chất lượng cao đến gần người dân hơn.

Khi người bệnh được tiếp cận trung tâm đột quỵ trong thời gian ngắn nhất, được chẩn đoán chính xác và can thiệp kịp thời, cơ hội hồi phục sẽ tăng lên rất nhiều.

"Hai trường hợp được điều trị thành công trong thời gian rất sớm, cho thấy bệnh nhân ở Ninh Bình và vùng lân cận có thể tiếp cận các kỹ thuật cấp cứu đột quỵ hiện đại ngay tại địa phương, không còn phải chuyển lên Hà Nội như trước", PGS Cơ đánh giá.

Theo ông, điều này có được vì khoảng cách địa lý được rút ngắn, người bệnh đến viện được tiếp cận điều trị trong "thời gian vàng", từ đó giảm tỷ lệ tử vong, hạn chế tàn phế và nâng cao chất lượng cuộc sống sau điều trị.