Quy định mới về bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp

(Dân trí) - Tại Nghị định số 374/2025/NĐ-CP, Chính phủ quy định các trường hợp bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động áp dụng từ ngày 1/1/2026.

Quy định mới về bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp - 1

Người lao động hưởng trợ cấp thất nghiệp tại TPHCM thông báo tình hình việc làm định kỳ (Ảnh: Tùng Nguyên).

Nghị định số 374/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026.

Tại Điều 8, Nghị định 374 quy định 5 trường hợp bảo lưu thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp nhưng chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp (TCTN) để cộng dồn và tính cho lần hưởng sau.

Thứ nhất là bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp khi người lao động hưởng TCTN mà còn một số tháng lẻ chưa giải quyết hưởng trợ cấp.

Nếu người lao động có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trên 36 tháng đến đủ 144 tháng thì thời gian đóng chưa được giải quyết hưởng trợ cấp được bảo lưu.

Nếu người lao động đóng BHTN trên 144 tháng thì thời gian đóng chưa được giải quyết hưởng trợ cấp không được bảo lưu.

Thứ hai là bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp khi người lao động bị hủy quyết định hưởng TCTN.

Khi người lao động bị hủy quyết định hưởng TCTN thì thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được bảo lưu là thời gian đóng mà chưa hưởng trợ cấp.

Thứ ba là bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp khi người lao động đang hưởng TCTN bị chấm dứt hưởng.

Nếu người lao động bị chấm dứt hưởng TCTN thuộc trường hợp quy định tại Khoản 5 Điều 41 Luật Việc làm (có việc làm và thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc; thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ tham gia công an nhân dân, dân quân thường trực; đi học tập có thời hạn trên 12 tháng; chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; bị tòa án tuyên bố mất tích; bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù; theo đề nghị của người lao động) thì thời gian được bảo lưu là thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp mà chưa hưởng trợ cấp.

Thứ tư là bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp khi người lao động không đến nhận tiền trợ cấp.

Trong trường hợp người lao động không đến nhận tiền và không thông báo bằng văn bản sau 3 tháng kể từ ngày hết thời hạn hưởng TCTN thì được bảo lưu. Thời gian bảo lưu tương ứng với số tháng hưởng bảo hiểm thất nghiệp mà người lao động không nhận tiền.

Thứ năm là bảo lưu thời gian đóng BHTN đối với trường hợp người lao động được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận bổ sung thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp sau khi chấm dứt hưởng trợ cấp.

Tại Khoản 6 Điều 8, Nghị định 374 quy định thời gian bảo lưu được tính bằng tổng thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trừ đi thời gian đóng đã được hưởng TCTN (nguyên tắc là mỗi tháng đã hưởng trợ cấp tương ứng 12 tháng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp) và trừ những tháng lẻ chưa giải quyết hưởng trợ cấp được bảo lưu

Cơ quan bảo hiểm xã hội căn cứ các quyết định liên quan đến việc hưởng TCTN và việc xác nhận bổ sung thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp để thực hiện việc bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp vào Sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động.

Tại Khoản 7 Điều 8, Nghị định 374/2025 quy định cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm ghi vào sổ bảo hiểm xã hội đối với thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được bảo lưu và mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp của thời gian được bảo lưu trên.

Đối với người được bảo lưu trong trường hợp thứ nhất đến thứ tư là khoảng thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp tính từtháng đóng bảo hiểm thất nghiệp cuối cùng trước khi hưởng TCTN.

Đối với người được bảo lưu trong trường hợp thứ năm là khoảng thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp tính từ tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp cuối cùng được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận bổ sung thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp.

Đọc nhiều trong Lao động - Việc làm