Việt Nam đẩy mạnh kiểm kê khí nhà kính: Hơn 2.400 cơ sở phải làm từ tháng 9

(Dân trí) - Danh mục cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê, theo quyết định mới nhất, tăng lên 2.411 đơn vị. Riêng lĩnh vực giao thông vận tải và xây dựng có 464 cơ sở được đưa vào danh mục.

Cụ thể, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng ký Quyết định 42/2026/QĐ-TTg (Quyết định 42/2026) ngày 10/8/2026, cập nhật danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính. Quyết định có hiệu lực từ ngày 25/9 năm nay. Danh mục mới gồm 2.411 cơ sở, tăng 245 cơ sở so với danh mục được ban hành năm 2024.

Trước đó, Quyết định 01/2022 của Thủ tướng Chính phủ đưa 1.912 cơ sở vào danh mục phải kiểm kê khí nhà kính. Đến năm 2024, Quyết định 13/2024 cập nhật danh mục lên 2.166 cơ sở, tăng 254 cơ sở. Việc cập nhật danh mục được thực hiện định kỳ 2 năm theo quy định tại Nghị định 06/2022 của Chính phủ về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ozone.

Việt Nam đẩy mạnh kiểm kê khí nhà kính: Hơn 2.400 cơ sở phải làm từ tháng 9 - 1

Phạm vi cơ sở phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính tại Việt Nam tiếp tục được mở rộng, lên 2.411 cơ sở từ ngày 25/9/2026 (Ảnh minh họa: AI).

6 nhóm lĩnh vực thuộc diện kiểm kê

Danh mục cơ sở phải kiểm kê khí nhà kính được phân theo 6 nhóm lĩnh vực gồm năng lượng, giao thông vận tải, xây dựng, các quá trình công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp và sử dụng đất và chất thải. Trong đợt cập nhật lần này, riêng lĩnh vực giao thông vận tải và xây dựng có 464 cơ sở được đưa vào danh mục. Các doanh nghiệp trong 6 nhóm lĩnh vực liên quan cần kiểm tra danh mục mới và đối chiếu với các tiêu chí áp dụng để xác định nghĩa vụ của mình.

Theo Nghị định 06/2022, cơ sở thuộc diện phải kiểm kê khí nhà kính khi đáp ứng một trong các tiêu chí về quy mô phát thải, tiêu thụ năng lượng hoặc xử lý chất thải. Trong đó, một tiêu chí là cơ sở có mức phát thải khí nhà kính hằng năm từ 3.000 tấn CO2 tương đương trở lên.

Ngoài ra, quy định còn áp dụng với các cơ sở có mức tiêu thụ năng lượng từ 1.000 tấn dầu tương đương mỗi năm hoặc cơ sở xử lý chất thải rắn có công suất từ 65.000 tấn mỗi năm.

Các tiêu chí này là cơ sở để xác định những cơ sở thuộc phạm vi phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính trong các lĩnh vực được quy định.

Doanh nghiệp cần rà soát danh mục

Quyết định 42 cũng quy định trách nhiệm rà soát, cập nhật danh sách cơ sở phát thải khí nhà kính trên địa bàn. UBND các tỉnh, thành phố phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công Thương và Bộ Xây dựng để rà soát, cập nhật, bảo đảm danh sách phù hợp với tình hình thực tế.

Việc danh mục được cập nhật định kỳ 2 năm khiến số lượng cơ sở thuộc diện kiểm kê có thể tiếp tục thay đổi qua từng giai đoạn. Trong 3 lần cập nhật, số cơ sở trong danh mục đã tăng từ 1.912 lên 2.166 và hiện là 2.411.

Với doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực thuộc danh mục, việc đối chiếu các tiêu chí về phát thải, tiêu thụ năng lượng và công suất xử lý chất thải là cơ sở để xác định cơ sở có thuộc diện phải kiểm kê hay không.

Theo quy định hiện hành, kiểm kê khí nhà kính là hoạt động nhằm xác định lượng phát thải khí nhà kính của cơ sở trong một khoảng thời gian nhất định. Số liệu kiểm kê được sử dụng cho việc thực hiện các yêu cầu về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính theo quy định.

Kiểm kê khí nhà kính là hoạt động thu thập thông tin và số liệu nhằm tính toán lượng khí thải, lượng khí được hấp thụ trong một phạm vi, thời gian nhất định thông thường là trong một năm. Mục đích của việc kiểm kê là đo lường lượng phát thải, từ đó có phương án lập kế hoạch giảm thải, tuân thủ luật pháp… 

Các loại khí nhà kính phổ biến hiện nay có khí CO2 phát sinh từ đốt than dầu, khí đối; khí CH4 từ chăn nuôi và rác thải; khí N2O sinh ra từ phân bón, nông nghiệp; một số loại khí khác.