(Dân trí) - TS Nguyễn Văn Thân, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam cho rằng yếu tố đầu tiên quyết định tăng trưởng chính là hoàn thiện thể chế, tháo gỡ “điểm nghẽn của điểm nghẽn”.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chiếm hơn 97% tổng số doanh nghiệp cả nước, tạo ra hàng triệu việc làm và đóng góp một phần quan trọng vào GDP quốc gia. Tuy nhiên, đây cũng là khối doanh nghiệp đang phải đối mặt với nhiều khó khăn như thiếu vốn, khó tiếp cận đất đai, hạn chế về công nghệ và nhân lực. Vậy làm thế nào để khơi thông những nguồn lực đang bị tắc nghẽn đó? Cơ chế nào cần thay đổi? Vai trò của Nhà nước, của Hiệp hội và của chính bản thân doanh nghiệp là gì?
Báo Dân trí có cuộc phỏng vấn TS Nguyễn Văn Thân, Đại biểu Quốc hội, Chủ tịch Hiệp hội DNNVV Việt Nam, xung quanh chủ đề nêu trên.
TS Nguyễn Văn Thân trò chuyện cùng báo Dân trí (Video: Phạm Tiến).

Trên cương vị Chủ tịch Hiệp hội DNNVV Việt Nam, ông cảm nhận như thế nào về sức khỏe của cộng đồng doanh nghiệp nói chung và đặc biệt là khối DNNVV Việt Nam hiện nay?
- Tôi đã đi suốt hành trình 20 năm với cộng đồng DNNVV, từ khi Hiệp hội thành lập cho đến nay. Bản thân tôi cũng xuất phát từ một DNNVV, sau đó mới tham gia vào lĩnh vực ngân hàng.
Thực tiễn thế giới cho thấy ở bất cứ quốc gia nào, DNNVV luôn là một lực lượng đóng vai trò quan trọng. Việt Nam hiện có gần 1 triệu DNNVV chiếm 97-98% tổng số doanh nghiệp cả nước. Khu vực kinh tế tư nhân đóng góp 50% GDP thì trong đó, phần lớn là DNNVV. Lao động tại khối DNNVV chiếm 82% lực lượng lao động trên toàn quốc; nguồn thu ngân sách đóng góp khoảng 30%. Có thể nói, đây là một cộng đồng rất lớn, đóng góp tích cực cho kinh tế đất nước.
Đặc biệt, cộng đồng DNNVV góp phần quan trọng vào an sinh xã hội ngay cả khi kinh tế thuận lợi hay trong những thời kỳ khó khăn. Dù hoàn cảnh nào, DNNVV vẫn nỗ lực duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, thể hiện trách nhiệm xã hội với cộng đồng; là nơi khởi nguồn đổi mới sáng tạo trong kinh doanh và là cầu nối đưa các kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ vào thực tiễn cuộc sống.
Những năm qua, cộng đồng DNNVV lớn mạnh rất nhanh, nhận được sự quan tâm khích lệ to lớn và có nhiều thuận lợi trong hoạt động, song cũng gặp không ít khó khăn, thách thức. Đội ngũ DNNVV nước ta còn non trẻ so với các nước trong khu vực và trên thế giới, chưa có tích lũy nhiều về vốn, tri thức, công nghệ và kinh nghiệm kinh doanh. Quy mô doanh nghiệp nhỏ, số vốn ít (trên 90% có quy mô dưới 10 tỷ đồng), công nghệ còn lạc hậu, trình độ quản lý chưa cao, chưa chuyên nghiệp, năng lực huy động và hấp thụ vốn thấp. Một bộ phận doanh nghiệp nhỏ và vừa đang chật vật với ba vấn đề mà chúng tôi hay gọi là “tam khó”: khó tiếp cận vốn, khó tiếp cận đất đai mặt bằng, và khó thích ứng với thủ tục hành chính.
Thời điểm hiện nay, tình hình bất ổn của kinh tế thế giới đang có những tác động đáng kể đến nguồn cung và hoạt động giao thương với nước ngoài của cộng đồng doanh nghiệp, trong đó có khối DNNVV. Có những doanh nghiệp phát triển, nhưng cũng có những doanh nghiệp phải rời khỏi thị trường. Tuy nhiên, về xu thế chung, số doanh nghiệp tham gia và quay trở lại vẫn lớn hơn số rút lui.

Sau khi có Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, Quốc hội và Chính phủ đã thể chế hóa bằng hàng loạt cơ chế, chính sách được quy định tại Nghị quyết 198, Nghị định 20 và nhiều văn bản khác. Một số chuyên gia phân tích đây là “luồng gió mới”, còn ông nhìn nhận như thế nào?
- Tôi nghĩ, với việc xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất, các cơ chế, chính sách đó không chỉ là “luồng gió mới” mà là “cú hích lịch sử” với cộng đồng doanh nghiệp, tạo rất nhiều điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp so với trước.
Nghiên cứu Nghị quyết 198 và Nghị định 20 chúng ta sẽ thấy cơ chế, chính sách rất sâu rộng, bao gồm việc cải thiện môi trường kinh doanh; hỗ trợ tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất; hỗ trợ tài chính, tín dụng và mua sắm công; hỗ trợ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo; chương trình đào tạo 10.000 giám đốc điều hành đến năm 2030, cung cấp miễn phí tư vấn pháp lý, kế toán, thuế cho DNNVV và hộ kinh doanh; chương trình phát triển 1.000 doanh nghiệp tiêu biểu, tiên phong về khoa học và công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; chương trình “Go Global” hỗ trợ doanh nghiệp vươn ra thị trường quốc tế.v.v.
Đi vào cụ thể là quy định ngân sách địa phương hỗ trợ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp, vườn ươm công nghệ; dành diện tích bình quân 20 ha/khu hoặc 5% diện tích cho doanh nghiệp công nghệ cao, DNNVV, doanh nghiệp khởi nghiệp (startup) thuê; hỗ trợ giảm tối thiểu 30% tiền thuê lại đất trong 5 năm đầu cho doanh nghiệp công nghệ cao, DNNVV, startup.
Rồi quy định hỗ trợ lãi suất 2%/năm khi vay vốn thực hiện dự án xanh, tuần hoàn, áp dụng ESG. Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa cho vay khởi nghiệp, tài trợ vốn ban đầu cho startup, đầu tư vào quỹ đầu tư tư nhân.

Ưu đãi thuế thì có miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 2 năm, giảm 50% trong 4 năm tiếp theo cho startup đổi mới sáng tạo; miễn thuế thu nhập cá nhân, thu nhập doanh nghiệp với thu nhập từ chuyển nhượng cổ phần vào startup; miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 3 năm đầu cho doanh nghiệp nhỏ và vừa mới thành lập...
Rất nhiều cơ chế, chính sách khác mà tôi không có điều kiện đề cập hết ở đây. Có thể nói thực hiện tốt các cơ chế, chính sách này chính là thực hiện tinh thần “Nhà nước kiến tạo; doanh nghiệp tiên phong; công tư đồng hành; đất nước phát triển; nhân dân hạnh phúc”.
Vấn đề được quan tâm hiện nay là việc đưa tinh thần “Nhà nước kiến tạo” vào thực tiễn như thế nào, các cơ quan quản lý và cán bộ, công chức hưởng ứng, triển khai ra sao? Về phía các doanh nghiệp, khi đã có được những sự ủng hộ đó, thì tiếp thu và tận dụng được không cũng là điều quan trọng.
Một đặc thù của cộng đồng DNNVV là thiếu nguồn lực để nghiên cứu chính sách; thậm chí một bộ phận còn thờ ơ. Ở đây cũng phải thông cảm rằng, cộng đồng doanh nghiệp của chúng ta xuất hiện muộn hơn so với các nước, việc thành lập và vận hành của nhiều doanh nghiệp còn đơn giản, chưa bài bản, chưa có bề dày, do đó việc nghiên cứu và ứng dụng chính sách vào thực tiễn còn yếu. Đương nhiên trách nhiệm của chúng tôi ở góc độ Hiệp hội là góp phần phổ biến cơ chế, chính sách, nhưng trước hết phải là sự chủ động của doanh nghiệp.
Ông vừa nhắc đến khái niệm “Nhà nước kiến tạo”. Đây cũng là một trong các chủ đề được nêu trong các phát biểu của lãnh đạo Đảng, Nhà nước trong thời gian gần đây. Theo ông, thông điệp này mang lại cảm hứng và ý nghĩa gì với cộng đồng doanh nghiệp?
- Tôi nghĩ rằng phát biểu của lãnh đạo Đảng, Nhà nước về việc hoàn thiện thể chế, xây dựng Nhà nước kiến tạo đã chạm đúng mong muốn, nguyện vọng của người dân cũng như cộng đồng doanh nghiệp.
Thực tế là những vướng mắc trong vấn đề thể chế đã được tháo gỡ nhưng chưa hết, vẫn còn nhiều tồn tại, chính vì vậy dẫn đến doanh nghiệp bị vướng khi làm việc với cơ quan quản lý, một số cán bộ thì đùn đẩy - cấp dưới đùn đẩy lên cấp trên, cấp trên lại đùn đẩy xuống - đó là thực tế.
Nếu tháo gỡ được điều đó, tôi cho rằng, đây sẽ là yếu tố quyết định đến việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số. Trong suy nghĩ của tôi, yếu tố đầu tiên quyết định tăng trưởng chính là hoàn thiện thể chế, tức là tháo gỡ “điểm nghẽn của điểm nghẽn”. Bây giờ chủ trương tháo gỡ rất rõ rồi, yếu tố quan trọng còn lại là quá trình thực thi của đội ngũ cán bộ, công chức - những người thay mặt Nhà nước thực thi chính sách, đưa chính sách đến với doanh nghiệp và người dân.

Ví dụ như khi doanh nghiệp có thủ tục cần giải quyết, nếu bị từ chối thì cơ quan quản lý phải đưa ra căn cứ pháp lý cụ thể để doanh nghiệp nắm được và kịp thời bổ sung, sửa đổi hồ sơ, không được đưa ra lý do chung chung, mơ hồ, dẫn đến vướng mắc và ách tắc kéo dài.
Mới đây tôi đã có dịp trao đổi nhanh với Thủ tướng và Phó Thủ tướng về vấn đề này. Các đồng chí lãnh đạo Chính phủ yêu cầu trước hết chúng tôi phải kiến nghị những vấn đề thể chế thật cụ thể, dù kiến nghị đó có thể chưa trùng với quy định pháp luật hiện hành, nhưng ít nhất phải có những gạch đầu dòng cụ thể để cùng nghiên cứu. Tôi thấy cách tiếp cận như vậy rất hay.
Rõ ràng, tháo gỡ “điểm nghẽn” thể chế là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và Thủ tướng đều nhấn mạnh đến điều này. Chúng tôi rất kỳ vọng vào những đột phá trong nhiệm kỳ mới. Một khi đã tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế thì sẽ giải phóng được nguồn lực, mang lại niềm tin, năng lượng cho người dân và doanh nghiệp, để tất cả cùng yên tâm nhập cuộc.
Ở trên ông đề cập vấn đề một bộ phận doanh nghiệp gặp khó trong việc đón nhận cơ chế, chính sách ưu đãi phát triển, vậy giải pháp là gì?
- Như tôi đã nêu, trước hết đây là vấn đề chủ quan của doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp lớn, chứ không riêng DNNVV. Tất nhiên các doanh nghiệp lớn thường có bộ phận nghiên cứu chính sách nên sẽ nắm vững hơn. Còn DNNVV, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ, với nguồn lực hạn chế, một bộ phận chỉ cặm cụi làm chứ ít khi dành thời gian nghiên cứu chính sách. Nhiệm vụ của Hiệp hội DNNVV là phổ biến chính sách, nhưng thực lòng mà nói, với số lượng lớn như vậy, chúng tôi cũng không thể bao quát hết. Tôi rất mong báo chí đồng hành phổ biến thông tin tới các doanh nghiệp. Ví dụ như chính sách thuế, chính sách đất đai và các doanh nghiệp còn vướng mắc điều gì?

Ngoài ra cũng phải thẳng thắn nói rằng thời gian qua một số chính sách được ban hành với những ưu đãi rất tốt, song doanh nghiệp không khai thác được. Ví dụ như Quỹ hỗ trợ DNNVV chưa được khai thác hiệu quả. Chúng tôi đang đề nghị Quốc hội trong nhiệm kỳ này sửa đổi Luật hỗ trợ DNNVV, qua đó sửa đổi, bổ sung cách thức hoạt động của Quỹ này.
Một vấn đề khác là yêu cầu tài sản thế chấp. Doanh nghiệp nhỏ thì yếu, thậm chí không có tài sản thế chấp. Đặc biệt là với startup của các bạn trẻ, họ lấy nguồn vốn ở đâu? Câu chuyện ở đây là doanh nghiệp khởi nghiệp phải chứng minh được năng lực của mình để gọi vốn, đó là về mặt chủ quan. Còn về phía khách quan, cơ quan quản lý cần tạo điều kiện sao cho doanh nghiệp có thể tiếp cận được vốn với lãi suất ưu đãi.
Như vậy đây là vấn đề 2 chiều. Trên tinh thần “Nhà nước kiến tạo” thì chúng ta phải có định hướng hỗ trợ tối đa cho doanh nghiệp. Hiện các bạn trẻ có rất nhiều dự án sáng tạo và khi tìm đến họ, tôi nhận thấy nhiều ý tưởng có giá trị. Vấn đề là tập hợp và khuyến khích, hỗ trợ được lực lượng đó phát triển.
Một vấn đề khác là chúng ta có khoảng 5,2 triệu hộ kinh doanh. Nhà nước khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp, tuy nhiên tôi thấy rất nhiều hộ kinh doanh chưa tìm hiểu kỹ các chính sách khuyến khích họ “nâng cấp”, gia nhập vào cộng đồng DNNVV.
Trong khi đó, cánh cửa đón họ gia nhập doanh nghiệp rất thuận lợi: 3 năm miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, 2 năm miễn thuế thu nhập cá nhân và 4 năm tiếp theo giảm 50% với khoản thu từ tiền lương, tiền công... Bên cạnh đó là hàng loạt chính sách ưu đãi về đất đai và tín dụng, đặc biệt là với các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo (startup).
Theo quy định hiện nay, hộ kinh doanh khai thuế, nộp thuế với doanh thu trên 500 triệu đồng/năm. Chúng tôi đang đề nghị nâng mức này lên mức 2 tỷ đồng.
Vừa qua tôi trò chuyện với một bạn trẻ startup trong lĩnh vực xe máy điện. Anh ấy cho biết khi đi gõ cửa các ngân hàng để vay vốn thì họ yêu cầu có sổ đỏ. Công ty mới thành lập thì lấy đâu ra sổ đỏ để thế chấp, vay vốn hoạt động? Bài toán đó đến nay vẫn chưa có lời giải. Ông nhìn nhận vấn đề này như thế nào?
- Đây là câu chuyện mà chúng tôi đã đau đầu trong nhiều năm. Và tôi phải nói thẳng: yêu cầu thế chấp bằng bất động sản - “sổ đỏ” hay “sổ hồng” - là rào cản lớn nhất, vô lý nhất đối với các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và startup. Tài sản quý giá nhất của họ là ý tưởng, là công nghệ, là đội ngũ nhân tài, nhưng tất cả những thứ đó hiện tại đều chưa được ngân hàng chấp nhận làm tài sản bảo đảm. Đó là nghịch lý.

Tình huống mà startup ở trên nêu ra là phổ biến. Thế nhưng nói đi cũng phải nói lại. Các doanh nghiệp lớn để có được thành công hiện nay thì ban đầu họ cũng rất mạo hiểm. Doanh nghiệp đã có sáng tạo thì phải dứt khoát đi tìm nhà đầu tư, đó là phương án thứ nhất. Phương án thứ hai là vay với lãi suất cao để đầu tư, liệu doanh nghiệp có tự tin dám vay không? Chứ cứ chờ hỗ trợ thì sẽ không thể kịp thời hiện thực hóa được ý tưởng của mình.
Thế hệ chúng tôi trưởng thành được cũng thế. Hồi xưa còn khó khăn nhiều, thật sự không có tiền, nhưng chúng tôi cũng không thể chờ Nhà nước hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi rồi mới làm. Bây giờ tôi nói với các doanh nghiệp trẻ: phải dũng cảm! Làm doanh nghiệp phải có tinh thần mạo hiểm, phải dám dấn thân chứ không thể ỷ lại được. Không thể đổ lỗi cho hoàn cảnh, như xuất thân nghèo khó, điều kiện khó khăn, bởi hầu hết người kinh doanh thành đạt, kể cả các tỷ phú hiện nay, phần lớn đều có xuất phát điểm thấp, không mấy ai được thừa hưởng tài sản sẵn có. Câu chuyện của những doanh nghiệp thành công cho thấy tinh thần vượt qua gian truân, thách thức.
Do vậy, vấn đề của chủ doanh nghiệp startup đề cập ở trên chỉ đúng ở một mặt nào đó, chứ không đúng hoàn toàn.
Tất nhiên về phía Nhà nước, rõ ràng là đã có những phương án như cơ chế sandbox (khung pháp lý thử nghiệm có kiểm soát), fintech (công nghệ tài chính), ngân hàng số.
Chúng tôi đang đề nghị Chính phủ nghiên cứu cho thành lập ngân hàng số. Ngân hàng số giải quyết được 2 vấn đề mà DNNVV cũng như hộ kinh doanh đang rất mong mỏi. Thứ nhất là cho vay tín chấp dựa trên định danh biết người vay là ai, uy tín thế nào, lịch sử tín dụng ra sao. Thứ hai, chi phí vận hành thấp, không cần nhiều trụ sở như các ngân hàng truyền thống, nên lãi suất thấp hơn. Ở Hà Nội có thể cho vay ở đồng bằng sông Cửu Long. Như vậy, với ngân hàng số, hai vấn đề được giải quyết: lãi suất thấp và thủ tục cho vay dễ dàng.
Tôi nghĩ rằng, các cơ quan nhà nước, đặc biệt ngành tài chính ngân hàng cần “dũng cảm” cho phép mở ra những cơ chế thử nghiệm (sandbox) khi mà chúng ta đã nghiên cứu kỹ lưỡng và đã có thông lệ quốc tế, nhiều nước đã làm trong thực tế. Phải mạnh mẽ hơn! Nhà nước nên khuyến khích đột phá, sáng tạo, sẵn sàng chấp nhận rủi ro nếu người thực hiện không có ý đồ cá nhân. Ai vì lợi ích cá nhân mà vi phạm pháp luật thì người đó chịu trách nhiệm.

Thưa ông, Nghị định 20 của Chính phủ đã cụ thể hóa Nghị quyết 198 của Quốc hội về đột phá phát triển kinh tế tư nhân, trong đó có chính sách khuyến khích các DNNVV tham gia vào cụm công nghiệp, làng nghề để tạo ra sự cộng hưởng và lan tỏa. Ông nhìn nhận như thế nào về điều này?
- Tôi nghĩ chính sách vô cùng đúng đắn. Nhưng thực tế vẫn còn nhiều vấn đề. Ví dụ như quy định dành diện tích bình quân 20 ha/khu hoặc 5% diện tích cho DNNVV, liệu chủ cụm công nghiệp thực hiện như thế nào, thủ tục có được đơn giản hóa không? Đó là vấn đề thứ nhất.
Thứ hai, chúng tôi đã đề nghị nhiều năm nay với Chính phủ: nên dành 30% đầu tư công cho DNNVV. Điều này ở các nước đã có nhưng Việt Nam vẫn chưa. Trong khi doanh nghiệp lớn đấu thầu xong lại thuê DNNVV làm, nghĩa là DNNVV vẫn chỉ đi làm thuê, không được bình đẳng, còn doanh nghiệp lớn nhận gói thầu rồi muốn thuê ai cũng được. Chưa kể đôi khi DNNVV đã làm xong rồi nhưng vẫn chưa được doanh nghiệp lớn thanh toán.
Từ thực tế đó, Nhà nước cần dành 30% đầu tư công riêng cho DNNVV, như các nước đã làm. Theo đó, có những gói thầu chỉ dành cho DNNVV, doanh nghiệp lớn không được tham gia. DNNVV được Nhà nước thanh toán trực tiếp theo giá đấu thầu. Nếu không có cơ chế cụ thể như vậy, DNNVV đi đấu thầu sẽ thua thiệt, gần như không thể cạnh tranh được với doanh nghiệp lớn.
Đây là đề nghị thiết tha nhiều năm của chúng tôi. Mới đây, khi tiếp xúc với cử tri, tôi đã hứa sẽ theo đuổi đến cùng. Tôi sẽ tiếp tục đề nghị với Quốc hội, với Chính phủ, bởi vì hướng đi này tạo công ăn việc làm cho DNNVV, không chỉ cho chủ doanh nghiệp mà còn cho cả người lao động. Khi đó, các chính sách cho một công ty nhỏ và vừa mới ra đời được hưởng 3 năm miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, người lao động được 2 năm miễn thuế thu nhập cá nhân, 4 năm tiếp theo giảm 50% mới thực sự có ý nghĩa. Bởi, muốn vậy, phải có việc làm trước.

Sự quyết liệt của Hiệp hội sẽ góp phần tạo môi trường kinh doanh tốt hơn cho các doanh nghiệp hội viên. Cá nhân ông nhìn nhận vấn đề này như thế nào?
-Tôi gần gũi với doanh nghiệp và hiểu họ. Bản thân tôi cũng xuất phát từ nhỏ đi lên. Tôi đã làm chủ tịch ngân hàng, tôi làm cả bất động sản, làm sản xuất, nhà hàng... nên hơn ai hết, tôi rất hiểu doanh nghiệp.
Khi ngồi ăn phở vỉa hè, tôi quan sát thấy một tiệm phở nhỏ thôi cũng đã giải quyết được công ăn việc làm cho 4-5 người lao động, và không những thế còn lan tỏa công ăn việc làm cho những xung quanh, như tiệm nước bên cạnh chẳng hạn. Nhân với 5,2 triệu hộ kinh doanh, với tối thiểu 5 người mỗi hộ thì đã giải quyết được ít nhất trên 25 triệu lao động. Ấy mới chỉ là quy mô của quán phở nhỏ.
Tuy nhiên, để khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi mô hình lên doanh nghiệp, không phải là áp ngưỡng thuế với 200 triệu đồng hay 500 triệu đồng doanh thu. Điều quan trọng hơn nằm ở chỗ khác: thứ nhất là công tác tuyên truyền; thứ hai là phải có công ăn việc làm, để họ thấy được ưu tiên (ví dụ như dành 30% trong đầu tư công). Chúng tôi kiên trì đề xuất để nâng ngưỡng gói thầu ưu tiên cho DNNVV từ 2 tỷ lên 5 tỷ đồng, nhưng thực tế khi có quy định, doanh nghiệp lớn vẫn nhảy vào, DNNVV bị đẩy ra. Doanh nghiệp lớn trúng thầu rồi lại chia việc cho những doanh nghiệp quen của mình, các DNNVV vẫn bị chiết khấu.
Thế nên, trong thực tế, DNNVV vẫn ở thế yếu. Nhiệm vụ của Hiệp hội chúng tôi là phải phản ánh được những vấn đề đó, phải làm cầu nối để Chính phủ nắm được.
Các lãnh đạo đều hiểu rằng DNNVV rất quan trọng, nhưng làm sao để doanh nghiệp lớn lên. Ở đây cần có sự ủng hộ, động viên và giúp đỡ của Chính phủ, hỗ trợ về chính sách, về tiếp cận đất đai, vốn... Và cũng phải thẳng thắn rằng, chính sách thì rất hay, nhưng cơ quan thực thi giúp hộ kinh doanh chuyển đổi, tham gia vào lực lượng doanh nghiệp một cách đúng luật thì vẫn đây đó còn phiền nhiễu.
Khi tiếp xúc với doanh nghiệp, dù sức mình cũng có giới hạn, không bao trùm hết được nhưng tôi luôn động viên mọi người thoải mái chia sẻ, kiến nghị. Tôi - với vai trò là đại biểu Quốc hội - có nhiệm vụ tiếp thu, tổng hợp vấn đề và sẽ truyền đạt lên với Chính phủ và Thủ tướng.

Thưa ông, trong hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp, sự phiền nhiễu và những rào cản vẫn là thực tế mà rất nhiều doanh nghiệp phải đối diện. Người ta thường nói “trên nóng, dưới lạnh”, ông cảm nhận điều này ra sao?
- Cho đến bây giờ vẫn tồn tại. Tôi nói thẳng luôn, với tư cách là một đại biểu Quốc hội, là Chủ tịch Hiệp hội DNNVV.
Ví dụ như cho vay DNNVV. Doanh nghiệp khó tiếp cận vốn, lý do thứ nhất là yêu cầu thế chấp rất chặt chẽ; thứ hai là bản thân doanh nghiệp nhỏ không có đủ ngôn ngữ và năng lực để lập luận chứng kinh tế thuyết phục ngân hàng. Còn bản thân ngân hàng thì tiếp một doanh nghiệp lớn cho vay hàng nghìn tỷ đồng, thay vì tiếp hàng trăm, hàng nghìn doanh nghiệp nhỏ để được doanh số tương đương, đó là thực tế khách quan. Chúng ta không trách ngân hàng, vì họ phải có doanh thu để vận hành.
Vấn đề là cơ quan quản lý với vai trò kiến tạo. Tôi đã trao đổi với một vị lãnh đạo rằng không thể ép ngân hàng hạ lãi suất thấp hơn mức cần thiết được, vì còn phụ thuộc vào các tiêu chuẩn quốc tế, và ngân hàng phải có lãi để vận hành. Cần phải bằng giải pháp cụ thể, đó là fintech, sandbox, ngân hàng số... mà các nước đã phát triển đã áp dụng thành công.
Phải làm sao phát triển văn hóa doanh nhân, đạo đức kinh doanh, nhưng phải bằng kiểm tra, kiểm soát ngay từ khâu triển khai chính sách của cơ quan quản lý. Nói thật là khi tôi gặp người nào hăng hái, chuyên tâm, yêu nghề và không đặt lợi ích cá nhân vào thì câu chuyện sẽ rất khác.

Cho nên, tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa, mục tiêu tăng trưởng hai con số thì một phần quyết định quan trọng là ở con người trong bộ máy thực thi. Mục đích của doanh nghiệp là tìm kiếm lợi nhuận, làm giàu, đóng góp cho xã hội, khi môi trường kinh doanh tốt thì không cần ai thúc đẩy, họ tự làm ngày làm đêm. Phải dựa trên thực tế chứ không thể chỉ bằng lý thuyết.

Theo ông, về việc triển khai chính sách tại địa phương và khu công nghiệp, ngoài những chỉ tiêu về tăng trưởng kinh tế nói chung, có cần thêm những chỉ tiêu riêng liên quan đến DNNVV không? Ví dụ như chỉ tiêu phát triển được bao nhiêu DNNVV trên địa bàn?
-Tôi đã đề nghị phải có chỉ tiêu đó, ngay cả với các tỉnh. Ví dụ, năm nay ngân sách nộp 10 đồng, thì trong nhiệm kỳ tới, Bí thư tỉnh và Chủ tịch tỉnh liệu có dám cam kết với Nhà nước là năm thứ nhất 11 đồng, năm thứ hai 12 đồng, năm thứ năm là 15 đồng không? Đó gọi là KPI - và tôi cho rằng ai làm được thì được ghi nhận, ai không làm được thì phải chịu trách nhiệm.
Thứ hai, phải đặt chỉ tiêu về DNNVV trên địa bàn, ví dụ năm 2026 có bao nhiêu doanh nghiệp và đến năm 2030 con số sẽ tăng lên mức nào. Cả nước phấn đấu đến 2 triệu doanh nghiệp theo nghị quyết Đại hội Đảng, thì từng địa phương phải có phần cụ thể của mình và phải sòng phẳng chấm KPI.
Đến năm 2044-2045, khoảng 20 năm nữa, mục tiêu thu nhập đầu người 22.000-25.000 USD/năm, muốn đạt được điều đó thì phải có lộ trình cụ thể cho 2026, 2027..., phải có tăng trưởng hai con số và phải có kế hoạch, có phương án để đạt được mục tiêu đó. Nhìn vào thực tế thì thấy rằng, để đạt được mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới biến động như hiện nay là rất khó, song nếu không có áp lực thì không đạt được mục tiêu đã đề ra.
Thưa ông, khi nói đến các cơ chế chính sách ưu đãi thì doanh nghiệp rất hào hứng. Tuy nhiên, có một số doanh nghiệp phản ánh rằng họ lo lắng về hậu kiểm. Ông nghĩ như thế nào về vấn đề này?
-Tôi nghĩ những lo lắng đó của doanh nghiệp là do đã quen với cách làm ăn cũ. Hậu kiểm là điều tất nhiên phải có, xã hội nào cũng có, vậy tại sao lại sợ hậu kiểm? Tôi thấy rất buồn về điều này.

Lời khuyên của tôi là doanh nghiệp hãy làm ăn chuyên nghiệp và nghiêm túc ngay từ đầu. Hãy chủ động minh bạch, đừng đợi bị thanh tra mới làm sạch hồ sơ. Cụ thể, doanh nghiệp cần áp dụng đầy đủ hóa đơn điện tử, kế toán theo chuẩn mực, lưu trữ đầy đủ chứng từ liên quan đến các khoản được hỗ trợ. Một doanh nghiệp hồ sơ minh bạch, kế toán rõ ràng không có gì phải sợ hậu kiểm. Trái lại, sự minh bạch chính là “lá bùa hộ mệnh” tốt nhất.
Đã làm ăn kinh doanh thì phải nộp thuế đầy đủ, tuân thủ pháp luật, bởi cứ ngẫm mà xem: chỉ khi làm ăn đàng hoàng thì có lãi mới cảm thấy giá trị! Bên cạnh vấn đề thuế còn phải đáp ứng những quy chuẩn ngành, có nguyên tắc nghề nghiệp. Ai cũng nói những câu đó như khẩu hiệu, nhưng phải thực sự nghĩ như thế trong đầu và hướng tới điều đó thì mới có thể phát triển.
Rồi còn tình trạng nhìn sang người khác thấy cái này hay rồi hùa theo kiểu “bầy đàn”, “chộp giật” mà không hiểu bản chất -- đây là điều rất nguy hại, như là bất động sản lên thì đổ vốn vào, bất động sản xuống thì mắc kẹt. Một thực trạng rất phổ biến với các doanh nghiệp của ta là không kiên trì với lĩnh vực của mình, và rõ ràng là không thể bền vững. Anh em chúng tôi ngày xưa cũng thế, xuất phát từ nghèo khó, từ bao cấp, thấy cái gì hay thì đầu tư vào, sau một thời gian không hiệu quả lại chuyển sang thứ khác, như thế không thể thành công được.
Tôi rất muốn thế hệ trẻ, con em chúng ta suy nghĩ khác đi. Khi đi sâu vào một lĩnh vực, mình sẽ trở thành người giỏi nhất, khách hàng tự tìm đến. Điều đó cần có quá trình, hình thành nên văn hóa doanh nhân. Tại sao ở các nước tỉ lệ công ty thành công cao hơn? Vì họ có văn hóa doanh nghiệp. Và bởi vì ai vi phạm thì sẽ bị xử lý ngay.

Thưa ông, với 20 năm gắn bó với cộng đồng DNNVV, đến bây giờ ông thấy đâu là những vấn đề nổi lên nhất và đáng quan tâm nhất?
- Phải thẳng thắn mà nói rằng, DNNVV của ta đang yếu. Vì sinh sau đẻ muộn nên mãi gần đây mới tiếp cận được với văn hóa kinh doanh hiện đại, còn trước đây, các doanh nghiệp nhỏ vẫn làm ăn manh mún, thấy chỗ nào hay thì đầu tư vào, xong khó khăn lại rút ra. Thế hệ trẻ hiện nay đang hướng đến cách làm rất chuyên nghiệp, xu hướng này cần phải được quan tâm và đẩy mạnh hơn nữa.
Về cơ chế chính sách vĩ mô đối với doanh nghiệp là rất tốt, với những ưu đãi về thuế, tín dụng... vấn đề là ở khâu thực thi. Ví dụ như hoàn thuế VAT, nhiều doanh nghiệp nói rằng khi nộp thuế VAT thì không sao nhưng ở khâu hoàn thuế lại phát sinh vấn đề. Cần phải sòng phẳng, nếu doanh nghiệp chậm thuế thì bị phạt, nhưng nếu cơ quan thuế chậm hoàn thuế cho doanh nghiệp thì phải bù lại cho doanh nghiệp!
Còn rất nhiều lĩnh vực khác nhau cũng gặp vấn đề tương tự. Ví dụ như khâu phê duyệt dự án, nhiều công đoạn, nhiều chỗ bị treo, đổ qua đổ lại... rất mất thời gian và thiệt hại cho doanh nghiệp. Theo đó, cần phải quan tâm đến thời gian trả lời của cơ quan Nhà nước, trong bao nhiêu ngày phải phản hồi cho doanh nghiệp, nếu không trả lời thì sao? Phải sòng phẳng, phải bình đẳng giữa doanh nghiệp và đại diện của cơ quan nhà nước.

Với những cơ chế, chính sách đã được ban hành, ông hình dung ra sao về mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp, về việc chúng ta sẽ có thêm nhiều tập đoàn lớn được trưởng thành và phát triển từ doanh nghiệp vừa ở Việt Nam?
-Tôi nghĩ là từ doanh nghiệp vừa lên doanh nghiệp lớn theo định nghĩa hiện nay thì khó, nhưng từ doanh nghiệp nhỏ lên vừa thì dễ hơn nhiều. Và nếu có cơ chế như tôi vừa đề cập để khuyến khích hộ kinh doanh chuyển sang mô hình doanh nghiệp, thì con số 2 triệu doanh nghiệp không khó.
Chính sách tốt nhưng phải tuyên truyền tốt, tạo động lực cho doanh nghiệp kinh doanh, phấn đấu lớn mạnh. Các quốc gia đều chú ý đến việc hỗ trợ, phát triển DNNVV, thậm chí Hàn Quốc còn có Bộ DNNVV, có một ngân hàng rất lớn chỉ dành cho doanh nghiệp nhỏ.
Tuy nhiên, vấn đề không chỉ nằm ở con số 2 triệu mà quan trọng hơn là chất lượng. Muốn có tăng trưởng hai con số thì phải có startup từ công nghệ, chuyển đổi số, còn nếu chỉ dựa vào buôn bán bất động sản, sản xuất kinh doanh theo truyền thống thì rất khó, nhất là trong tình hình thế giới hiện nay với nhiều rủi ro và bất ổn.
Cần phải quyết tâm, biến áp lực thành động lực. Tôi dù đã nhiều tuổi vẫn cảm thấy hào hứng và luôn nói với các doanh nghiệp trẻ: phải dấn thân, mình làm cho mình và được Nhà nước ủng hộ thì càng cần phải nỗ lực, dám bứt phá. Tất nhiên, truyền cảm hứng không thể chỉ bằng lời mà phải dựa trên chính sách cụ thể: khuyến khích, tuyên dương, khen thưởng, miễn thuế.
Hiện nay cả nước có khoảng 30.000 doanh nghiệp vừa. Chuyển từ doanh nghiệp vừa lên doanh nghiệp lớn là cả một vấn đề, trong đó có đào tạo, bồi dưỡng nhân lực. Bản thân nhiều doanh nghiệp vừa chưa đủ bền vững nên nếu muốn trở thành doanh nghiệp lớn là không đơn giản, đòi hỏi rất nhiều thứ. Với kinh nghiệm bản thân tôi có những băn khoăn như vậy, song tôi hy vọng là mình không đúng.
Với tư cách là Chủ tịch Hiệp hội DNNVV Việt Nam, ông có thông điệp gì muốn chia sẻ thêm nhân cuộc phỏng vấn này?
-Tôi nghĩ để phát triển DNNVV cần có sự quan tâm cả từ hai phía. Về phía các cơ quan nhà nước từ cấp bộ trở xuống, cần nhìn nhận đúng mức sự đóng góp của DNNVV. Nếu tách từng doanh nghiệp thì nhỏ, nhưng đây là một cộng đồng rất lớn. Theo đánh giá của tôi, lực lượng này trong tương lai, trong kế hoạch đến 2045, là yếu tố quyết định chứ không phải là doanh nghiệp lớn, kể cả doanh nghiệp nhà nước. Ví dụ, trong số 30.000 doanh nghiệp vừa mà chỉ cần 10% trong số đó lớn mạnh thêm thì bức tranh kinh tế đã rất đổi khác.

Muốn làm được điều đó, tất cả các chính sách của Đảng, Nhà nước, thể hiện qua Nghị quyết 68 và các nghị quyết của Quốc hội, của Chính phủ phải được triển khai tốt nhất có thể, phải tạo được quan hệ bình đẳng giữa doanh nghiệp và cơ quan đại diện Nhà nước như đề cập ở trên.
Tôi có 5 điểm đề nghị sau:
Một là tạo công ăn việc làm cho DNNVV, có cơ chế 30% đầu tư công dành riêng cho họ, được Nhà nước thanh toán trực tiếp, bình đẳng như doanh nghiệp lớn.
Hai là nâng ngưỡng doanh thu miễn thuế cho hộ kinh doanh từ 500 triệu đồng lên 2 tỷ đồng doanh thu một năm nhằm khoan thư sức dân. Khi doanh nghiệp lớn lên, có thu nhập, họ sẽ nộp thuế trở lại và đóng góp nhiều hơn cho ngân sách.
Ba là phải tạo điều kiện về vốn, không phải ép hạ lãi suất mà thông qua fintech, sandbox, ngân hàng số nhằm giải quyết được các vấn đề về vốn tín chấp, lãi suất thấp, thủ tục nhanh.
Bốn là phải có cơ chế đột phá phát triển từ cơ quan nhà nước, từ bộ, ngành, cấp tỉnh xuống cấp phường, xã. Ai đột phá thì được vào cuộc, ai không làm thì đứng sang một bên. Để đột phá được đòi hỏi phải dũng cảm, phải bảo vệ người dám làm, dám đột phá chừng nào họ không vì lợi ích cá nhân.
Năm là đẩy mạnh vai trò của cơ quan truyền thông báo chí. Các chính sách pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp cần được phổ biến rộng rãi qua báo chí, không chỉ đối nội mà cả đối ngoại. Chúng ta truyền thông tốt thì thế giới biết đến Việt Nam là đất nước hòa bình, có nhiều cơ hội để phát triển, nhà đầu tư nước ngoài sẽ muốn vào, mang theo cả vốn lẫn công nghệ.
Tóm lại, tôi đề nghị 5 yếu tố cơ bản cần thực hiện, và đặc biệt nhấn mạnh: phải thực sự coi trọng và tạo mọi điều kiện cho DNNVV, vì đó là nền tảng bền vững của nền kinh tế đất nước.
Xin trân trọng cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này!
Cảm ơn Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) đã đồng hành cùng chương trình.











