Kéo tuổi thọ quần áo để giải bài toán xanh, thời trang nhanh bị đe dọa?
(Dân trí) - Khi làn sóng tái chế bộc lộ nhiều hạn chế và các cam kết môi trường bị thoái lui, ngành thời trang buộc phải thay đổi tư duy: sản xuất ít hơn, nâng cao độ bền và kéo dài vòng đời trang phục.
Doanh nghiệp đẩy mạnh kéo dài tuổi thọ cho quần áo, hạn chế "fast fashion"
Mỗi năm, thế giới thải ra khoảng 92 triệu tấn rác thải thời trang. Dự báo lượng tiêu thụ hàng may mặc toàn cầu sẽ tăng 63% vào năm 2030, chạm mốc 102 triệu tấn. Mỗi bộ quần áo bị vứt bỏ sớm đồng nghĩa với lãng phí tài nguyên nước, hóa chất nhuộm, điện năng sản xuất và chi phí nhân công.
Thay vì chạy theo số lượng, việc chuyển hướng sang nâng cao chất lượng sản phẩm và kéo dài vòng đời sử dụng đang trở thành hướng đi khả thi. Điển hình, Ralph Lauren đã giảm 34% lượng phát thải vào năm 2020 so với mức cơ sở nhờ định hướng sản xuất ít sản phẩm hơn nhưng đạt chất lượng cao hơn, sử dụng vật liệu ít tác động môi trường và tối ưu hóa chuỗi cung ứng.
Giám đốc kỹ thuật Ilan MacAdam-Somer của SCS nhấn mạnh, để giảm thiểu tác động môi trường và xã hội, ngành dệt may cần xem xét lại mối quan hệ với tiêu dùng. Các sản phẩm phải được thiết kế bền vững ngay từ đầu để dễ dàng tái sử dụng, sửa chữa và tái chế trong suốt vòng đời sử dụng.
Động thái trên diễn ra trong bối cảnh các thương hiệu thời trang toàn cầu từng ồ ạt đưa ra những cam kết môi trường, xã hội và quản trị (ESG) đầy tham vọng, theo Financial Times.
Song khi đối diện bài toán tăng trưởng và chi phí, một số tên tuổi lớn đang âm thầm lùi bước nhưng vẫn kiên định mục tiêu. Burberry đã hoãn mục tiêu phát thải ròng bằng 0 thêm 10 năm sang năm 2050, Under Armour từ bỏ hoàn toàn mục tiêu này, trong khi Nike dừng công bố báo cáo bền vững công khai.
Thực trạng trên cho thấy nỗ lực "xanh hóa" bằng các khẩu hiệu tự nguyện đang dần mất đi sức hút. Ngành may mặc đang đứng trước áp lực phải tìm kiếm những giải pháp thực chất và bền vững hơn về mặt kinh tế.

Ngành may mặc bước vào giai đoạn ESG không còn chỉ xoay quanh việc chọn vật liệu xanh hơn mà phải nhìn vào toàn bộ vòng đời sản phẩm (Ảnh minh họa: PN).
Khi tái chế chưa đủ xanh
Nhiều năm qua, việc thay thế nguyên liệu bằng sợi tái chế được xem như giải pháp cứu tinh. Dù vậy, theo phân tích từ tổ chức phi lợi nhuận Textile Exchange và SCS Consulting Services, polyester tái chế chưa thể giải quyết triệt để cuộc khủng hoảng rác thải và khí hậu.
Đánh giá vòng đời (LCA) chỉ ra rằng nguồn điện phục vụ sản xuất đóng vai trò quyết định. Nếu nhà máy tái chế sử dụng điện từ lưới điện phụ thuộc vào than đá, mức phát thải vẫn ở mức rất cao. Bên cạnh đó, quãng đường vận chuyển phế liệu đến nhà máy cũng tạo ra lượng phát thải lớn. Hiện khoảng 98% polyester tái chế vẫn tận dụng từ chai nhựa sau tiêu dùng chứ chưa xử lý được khối lượng rác thải khổng lồ phát sinh từ quần áo cũ.
Chuyên gia tư vấn phát triển bền vững Rachel Arthur nhận định trên Financial Times rằng ngành công nghiệp này đã gắn tính bền vững với lớp vỏ thương hiệu hấp dẫn suốt nhiều năm. Thông điệp cho rằng chỉ cần tái chế hay cho thuê trang phục là đủ giải quyết vấn đề thực chất là một sự ngộ nhận, bởi không có sáng kiến đơn lẻ nào có thể đóng vai trò như một "viên đạn bạc".
Áp lực từ các rào cản pháp lý mới
Trong khi các cam kết tự nguyện dần hạ nhiệt, làn sóng siết chặt quy định pháp lý lại trở thành động lực thúc đẩy sự thay đổi. Theo Quy định về thiết kế sinh thái cho sản phẩm bền vững (ESPR) thuộc Thỏa thuận Xanh của Liên minh châu Âu (EU), lệnh cấm tiêu hủy quần áo, giày dép tồn kho chưa bán được đã chính thức có hiệu lực.
Song song đó, Ủy ban châu Âu (EC) đã chính thức vận hành Cơ sở dữ liệu Hộ chiếu Sản phẩm Kỹ thuật số (DPP). Công cụ này lưu trữ các dữ liệu đã xác thực về nguồn gốc xuất xứ, cấu trúc vật liệu, khả năng sửa chữa và tái chế của sản phẩm dệt may thông qua mã QR hoặc thẻ RFID. Những quy định mới buộc các chuỗi cung ứng toàn cầu phải minh bạch thông tin và tái cấu trúc quy trình quản lý tồn kho, loại bỏ thói quen sản xuất dư thừa vốn tồn tại hàng thập kỷ.
Bà Jules Lennon, đại diện tổ chức Ellen MacArthur Foundation, nhận định các vấn đề mang tính hệ thống cần những giải pháp mang tính hệ thống. Việc tiếp tục vận hành theo phương thức cũ sẽ không mang lại kết quả mong muốn khi các mô hình tuần hoàn gặp rào cản lớn về biên lợi nhuận và chi phí nhân công phân loại, sửa chữa.





