Sau 20 năm phát triển công nghiệp vũ trụ, Việt Nam đang ở đâu?
(Dân trí) - Sự phát triển của các dự án vệ tinh đang mở ra cơ hội để Việt Nam chủ động quan sát Trái Đất, giảm phụ thuộc dữ liệu nước ngoài và khai thác hiệu quả tài nguyên không gian.
Từ năm 2006, việc Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vũ trụ đến năm 2020 theo Quyết định số 169/QĐ-TTg đã tạo nền tảng quan trọng cho quá trình hình thành và phát triển lĩnh vực công nghệ vũ trụ tại Việt Nam.
Theo PGS.TS Phạm Anh Tuấn, Tổng Giám đốc Trung tâm Vũ trụ Việt Nam (VNSC), đây là dấu mốc mở đầu cho định hướng phát triển lâu dài của ngành công nghệ vũ trụ trong nước.

PGS.TS Phạm Anh Tuấn, Tổng Giám đốc Trung tâm Vũ trụ Việt Nam (Ảnh: Thanh Bình).
Ngày 4/2/2021, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ (KHCN) vũ trụ đến năm 2030, mở đường cho việc ứng dụng rộng rãi thành tựu của KHCN vũ trụ.
Phấn đấu làm chủ được công nghệ thiết kế, chế tạo, tích hợp các cảm biến quang học, radar cho vệ tinh quan sát Trái Đất và phát triển thị trường, dần hình thành nền công nghiệp vũ trụ của Việt Nam.
Theo Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024, Đảng và Nhà nước đặt định hướng phát triển khoa học - công nghệ gắn với việc mở rộng các không gian phát triển mới, trong đó có nội dung: "Ban hành các chiến lược nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong khai thác, phát triển không gian biển, không gian ngầm, không gian vũ trụ".
Trong bối cảnh đó, dự án LOTUSat-1 hiện thực hóa mục tiêu làm chủ công nghệ vệ tinh quan sát Trái Đất, đồng thời tăng cường năng lực khai thác dữ liệu viễn thám phục vụ phát triển kinh tế số.

Vệ tinh LOTUSat-1 được chế tạo tại Nhật Bản. (Ảnh: VNSC).
20 năm phát triển: 6 vệ tinh ngoài không gian
Trước khi dự án LOTUSat-1 hoàn thành và đang chờ ngày phóng lên quỹ đạo, ngành công nghệ vũ trụ Việt Nam đã ghi nhận nhiều dấu mốc quan trọng.
VINASAT-1 là vệ tinh viễn thông đầu tiên của Việt Nam có dịch vụ viễn thông, Internet và phát thanh - truyền hình đến tất cả các vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo được phóng vào sáng ngày 19/4/2008.
VINASAT-1 cao khoảng 4m, nặng 2.600kg, được trang bị 20 bộ phát đáp trên băng tần C và Ku, với tuổi thọ thiết kế 15-20 năm.
Vệ tinh do VNPT quản lý, khai thác thương mại với hai nhóm dịch vụ chính gồm cho thuê băng tần vệ tinh và cung cấp các dịch vụ viễn thông như truyền hình vệ tinh, hội nghị truyền hình, truyền dữ liệu, kênh thuê riêng, Internet và thông tin liên lạc cho vùng sâu, vùng xa.
Dự án có tổng mức đầu tư khoảng 200 triệu USD, dự kiến hoàn vốn sau 9-10 năm khai thác.
4 năm sau dấu mốc đưa vệ tinh viễn thông đầu tiên vào khai thác, VINASAT-2 rời bệ phóng ngày 16/5/2012 góp phần tăng cường hạ tầng thông tin liên lạc cho khu vực vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, đồng thời hỗ trợ nhiệm vụ bảo đảm an ninh, quốc phòng và nâng cao năng lực, vị thế của ngành Thông tin và Truyền thông Việt Nam.
VINASAT-2 được chế tạo trên nền tảng khung A2100 với công nghệ hiện đại, có tuổi thọ thiết kế khoảng 15 năm. Vệ tinh nặng khoảng 2.969kg, kích thước 4,4 x 1,9 x 1,8m và có sải cánh khi hoạt động trên quỹ đạo gần 19m.
Vệ tinh được trang bị 30 bộ phát đáp băng tần Ku (gồm 24 bộ khai thác thương mại và 6 bộ dự phòng), cho phép phủ sóng khu vực Đông Nam Á và một số quốc gia lân cận.
Dung lượng truyền dẫn của VINASAT-2 tương đương khoảng 13.000 kênh thoại, Internet, truyền số liệu hoặc gần 150 kênh truyền hình.
Trong năm 2013, Việt Nam ghi nhận hai dấu mốc quan trọng khi lần lượt phóng thành công vệ tinh quan sát Trái Đất VNREDSat-1 vào tháng 5 và vệ tinh siêu nhỏ PicoDragon vào tháng 8, đánh dấu bước tiến trong nghiên cứu, ứng dụng và làm chủ công nghệ vũ trụ.
VNREDSat-1 giúp Việt Nam chủ động tiếp nhận và khai thác dữ liệu viễn thám phục vụ quản lý tài nguyên, giám sát môi trường, hỗ trợ quy hoạch đô thị và phòng chống thiên tai.
Trong khi đó, PicoDragon mang ý nghĩa quan trọng về mặt làm chủ công nghệ khi được các kỹ sư Việt Nam tự thiết kế, tích hợp và vận hành.
Dự án không chỉ giúp tích lũy kinh nghiệm thực tiễn trong phát triển vệ tinh cỡ nhỏ mà còn góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành công nghệ vũ trụ.
Ngày 18/1/2019, vệ tinh MicroDragon của Việt Nam đã được phóng thành công và thả vào quỹ đạo. Đây là vệ tinh được phát triển bởi 36 học viên, là các cán bộ nghiên cứu của Trung tâm Vũ trụ Việt Nam.

Những bức ảnh thử nghiệm chưa qua xử lý đầu tiên của hệ máy ảnh TPI, được vệ tinh MicroDragon chụp sau khi phóng tại khu vực nước Mỹ (Ảnh: VNSC).
Sau đó, Việt Nam tiếp tục ghi nhận thêm một dấu mốc trong hành trình phát triển công nghệ vũ trụ khi vệ tinh NanoDragon được phóng thành công lên quỹ đạo vào ngày 9/11/2021, góp phần mở rộng năng lực nghiên cứu, thử nghiệm công nghệ vệ tinh cỡ nhỏ và hoàn thiện chuỗi phát triển công nghệ không gian trong nước.
Theo PGS.TS Phạm Anh Tuấn, dấu mốc Trung tướng Phạm Tuân thực hiện chuyến bay vào vũ trụ năm 1980 không chỉ mang ý nghĩa lịch sử mà đã đặt nền móng cho khát vọng chinh phục không gian của Việt Nam.
Từng bước xây dựng năng lực chế tạo vệ tinh “Make in Vietnam”
Từ những dấu mốc phát triển qua từng thế hệ vệ tinh, ngành công nghệ vũ trụ Việt Nam đã hình thành nền tảng về công nghệ và nguồn nhân lực.
Theo hệ phân loại vệ tinh theo khối lượng được Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) sử dụng, vệ tinh pico thường có khối lượng dưới 1kg, vệ tinh nano dao động từ 1-10kg, vệ tinh micro từ 10-100kg, vệ tinh mini từ 100-500kg, và nhóm vệ tinh cỡ nhỏ (small satellite) thường được hiểu là các vệ tinh có khối lượng dưới 500kg.
Trên cơ sở kinh nghiệm đã được tích lũy, Trung tâm Vũ trụ Việt Nam hướng tới mục tiêu đến năm 2030 làm chủ công nghệ chế tạo vệ tinh có khối lượng 100-200kg.
“Mục tiêu này hoàn toàn khả thi, dựa trên nền tảng hạ tầng kỹ thuật hiện đại tại Trung tâm Vũ trụ Việt Nam ở Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, cùng đội ngũ cán bộ, kỹ sư được đào tạo bài bản và tích lũy kinh nghiệm qua nhiều dự án nghiên cứu, phát triển vệ tinh", PGS Phạm Anh Tuấn cho biết.
Cụ thể, sau nhiều năm chuẩn bị, Việt Nam đã từng bước hình thành hệ thống hạ tầng công nghệ vũ trụ với nhiều hạng mục quan trọng như hệ thống điều khiển, vận hành vệ tinh.

Trung tâm Vũ trụ Việt Nam tại Khu Công nghệ cao Hoà Lạc (Ảnh: VNSC).
Đặc biệt, việc hoàn thiện phòng thí nghiệm mô phỏng môi trường vũ trụ tại Khu Công Nghệ Cao Hòa Lạc trong thời gian tới cho phép kiểm tra, đánh giá độ bền và khả năng hoạt động của vệ tinh trong điều kiện khắc nghiệt tương tự ngoài vũ trụ.
Các hạng mục này khi đi vào vận hành đầy đủ, quá trình lắp ráp, tích hợp và thử nghiệm vệ tinh có thể được thực hiện ngay trong nước, thay vì phải đưa ra nước ngoài như trước đây.
"Mục tiêu dài hạn của Việt Nam không chỉ dừng ở nghiên cứu và ứng dụng mà còn hướng tới phát triển kinh tế vũ trụ, trong đó có dữ liệu viễn thám phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng - an ninh", PGS Phạm Anh Tuấn chia sẻ.
"Dữ liệu vệ tinh giống như dầu thô"
PGS.TS Phạm Anh Tuấn cho rằng Việt Nam hoàn toàn có khả năng xây dựng và khai thác hiệu quả hệ sinh thái dữ liệu không gian, góp phần mở rộng nguồn thông tin quan sát Trái Đất.
Yếu tố then chốt không chỉ nằm ở số lượng vệ tinh mà ở việc hình thành một trung tâm điều phối và tích hợp dữ liệu giữa các hệ thống vệ tinh khác nhau.
Trên cơ sở nguồn dữ liệu, các cơ quan chuyên môn có thể xử lý, ứng dụng phục vụ quản lý tài nguyên, giám sát môi trường, dự báo thiên tai cũng như phát triển kinh tế - xã hội.
Lãnh đạo VNSC nhấn mạnh, dữ liệu vệ tinh có thể được ví như “dầu thô”, chỉ thực sự tạo ra giá trị khi được xử lý và khai thác hiệu quả.

Lãnh đạo VNSC nói về giá trị kinh tế của dữ liệu vệ tinh (Ảnh: Thanh Bình).
Trong nhiều năm qua, việc khai thác dữ liệu viễn thám của Việt Nam vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguồn ảnh vệ tinh từ nước ngoài, khiến quá trình tiếp cận thông tin trong các tình huống khẩn cấp như thiên tai, lũ lụt hay sạt lở đất còn hạn chế về tốc độ và tính chủ động.
Theo thống kê của Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai, tổng thiệt hại kinh tế năm 2025 ước tính vượt 100.000 tỷ đồng, mức cao nhất từng được ghi nhận.
"Nếu chúng ta có thể ứng dụng hiệu quả dữ liệu vệ tinh và góp phần giảm khoảng 10% thiệt hại do thiên tai, thì ước tính có thể tiết kiệm tới khoảng 10.000 tỷ đồng.
Con số này cho thấy tiềm năng rất lớn về giá trị kinh tế và hiệu quả thực tiễn mà công nghệ không gian có thể mang lại khi được khai thác đúng mức", PGS Phạm Anh Tuấn chia sẻ.
Theo định hướng dài hạn, Việt Nam không chỉ phát triển từng vệ tinh đơn lẻ mà hướng tới xây dựng hệ thống vệ tinh hoạt động theo chùm. Mô hình này giúp tăng tần suất chụp ảnh, bảo đảm khả năng quan sát liên tục và cập nhật dữ liệu theo thời gian thực.
LOTUSat-1 là vệ tinh quan sát Trái Đất bằng công nghệ radar đầu tiên của Việt Nam, được triển khai sau khi Trung tâm Vũ trụ Việt Nam ký kết với Tập đoàn Sumitomo (Nhật Bản) gói thầu “Vệ tinh LOTUSat-1, thiết bị và đào tạo nhân lực”, thuộc Dự án Trung tâm Vũ trụ Việt Nam.
Vệ tinh LOTUSat-1 có khối lượng khoảng 600kg, được trang bị công nghệ radar tiên tiến, cho phép phát hiện các vật thể có kích thước từ khoảng 1m trên bề mặt Trái Đất. Nhờ sử dụng công nghệ radar khẩu độ tổng hợp, vệ tinh có khả năng quan sát cả ngày lẫn đêm, đồng thời hoạt động ổn định trong mọi điều kiện thời tiết, kể cả khi nhiều mây, mưa hoặc sương mù.
Nguồn dữ liệu ảnh do LOTUSat-1 cung cấp được kỳ vọng sẽ đáp ứng nhu cầu về thông tin viễn thám độ chính xác cao, phục vụ công tác ứng phó và giảm thiểu tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu, đồng thời hỗ trợ quản lý tài nguyên thiên nhiên, giám sát môi trường.














