DNews
Giáo dục

Tác giả SGK Chân trời sáng tạo: Đề thi chuyên vẫn cần bám chương trình

(Dân trí) - ThS Nguyễn Thị Minh Ngọc, tác giả SGK Chân trời sáng tạo, cho rằng đề thi chuyên cần khó hơn đề thi đại trà nhưng không nên nằm ngoài yêu cầu cần đạt của chương trình GDPT 2018.

Đề thi môn ngữ văn chung trong kỳ tuyển sinh vào lớp 10 của Trường THPT chuyên Khoa học Xã hội và Nhân văn nhận được nhiều ý kiến trao đổi từ giáo viên liên quan tới tính chính xác học thuật cũng như phạm vi kiến thức vượt chương trình. Phóng viên Dân trí đã có cuộc trò chuyện với ThS Nguyễn Thị Minh Ngọc, giáo viên ngữ văn, tác giả SGK THCS bộ Chân trời sáng tạo, xoay quanh các vấn đề này.

Đề thi chính thức khác với dạng thức đề thi công bố

Ngày 23/3, tức 2 tháng trước kỳ tuyển sinh, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn công bố dạng thức đề thi vào lớp 10 Trường THPT chuyên Khoa học Xã hội và Nhân văn. Tuy nhiên, nhiều giáo viên chỉ ra rằng nội dung kiến thức của đề thi chính thức môn ngữ văn chung khác hẳn với dạng thức đề thi đã ban hành. Theo bà, việc đề thi chính thức khác với dạng thức đề thi sẽ gây ra những vấn đề gì?

- Theo tôi, việc đề thi chính thức khác với dạng thức đã công bố tạo ra hai vấn đề lớn.

Vấn đề thứ nhất là tính nhất quán của cam kết.

Cấu trúc đề thi được Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn ban hành ngày 23/3 ghi rõ hai điều: nội dung kiến thức thuộc chương trình Giáo dục phổ thông (GDPT) 2018 lớp 6-9 và ngữ liệu nằm ngoài sách giáo khoa (SGK) hiện hành.

Đây là cam kết công khai, có giá trị định hướng ôn tập cho hàng nghìn học sinh trong bối cảnh đang thực hiện “một chương trình - nhiều bộ SGK”.

Tác giả SGK Chân trời sáng tạo: Đề thi chuyên vẫn cần bám chương trình - 1

Thí sinh thi lớp 10 Trường THPT chuyên Khoa học Xã hội và Nhân văn năm 2026 (Ảnh: Mai Thu Duyên).

Đề thi chính thức vi phạm cả hai cam kết đó. Ngữ liệu xuyên suốt là bài thơ Lá đỏ của Nguyễn Đình Thi, có trong SGK lớp 8, tập 2 bộ Kết nối tri thức với cuộc sống. Đồng thời, nội dung kiến thức vượt ra ngoài phạm vi yêu cầu cần đạt chương trình lớp 6-9 ở nhiều câu hỏi phần đọc và cả phần viết.

Vấn đề thứ hai là sự không tương thích giữa hệ thống câu hỏi và chương trình THCS.

Rà soát toàn bộ phần Đọc hiểu gồm 4 câu, chỉ có câu 1 (xác định thể thơ) là phù hợp với yêu cầu cần đạt của chương trình THCS. Ba câu còn lại đều sử dụng thuật ngữ hoặc yêu cầu không có trong chương trình lớp 6-9. Cụ thể như sau:

Câu 2 yêu cầu học sinh chỉ ra “cách kiến tạo nhạc tính” trong văn bản. Thuật ngữ “nhạc tính” không xuất hiện trong chương trình 2018 và SGK THCS. Chương trình dạy học sinh nhận biết vần - nhịp, thông hiểu tác dụng của vần - nhịp - những yếu tố tạo nên âm nhạc của thơ - nhưng không dùng khái niệm “nhạc tính”, và không yêu cầu phân tích “cách kiến tạo” nó.

Câu 3 yêu cầu học sinh “nêu hiểu biết về nhân vật trữ tình “em gái tiền phương”, câu này tồn tại 2 vấn đề. Thứ nhất, kiến thức về nhân vật trữ tình/chủ thể trữ tình được học trong chương trình lớp 10.

Thứ hai, tri thức ngữ văn của 3 bộ SGK lớp 10 đều không xác định “đối tượng trữ tình” là “nhân vật trữ tình”.

Câu 4 yêu cầu học sinh nhận xét về “sự kết hợp giọng tự sự, trữ tình và kịch” trong Lá đỏ là yêu cầu cao, khó với các em học sinh.

Chương trình Ngữ văn THCS, lớp 6, có dạy học sinh nhận biết yếu tố tự sự và yếu tố miêu tả trong thơ nhưng không dùng khái niệm “giọng tự sự” hay “giọng trữ tình”. Đặc biệt, yêu cầu nhận diện “giọng kịch” trong một bài thơ trữ tình hoàn toàn không có trong chương trình.

Chương trình 2018 có dạy về hài kịch ở lớp 8 và bi kịch ở lớp 9, nhưng đó là yêu cầu đọc hiểu kịch như một thể loại văn học độc lập, không phải nhận diện “tính kịch/giọng kịch” bên trong một bài thơ.

Về phần viết, câu 2 (4 điểm) yêu cầu học sinh bàn luận về niềm tin trong cuộc sống từ 2 câu cuối bài thơ Lá đỏ. Đây là kiểu bài nghị luận về vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học của chương trình viết lớp 11.

Thực tế, học sinh cấp THCS chỉ học hai kiểu bài nghị luận gồm: Nghị luận về vấn đề đời sống ở lớp 7,8 và nghị luận về một vấn đề cần giải quyết ở lớp 9.

Trong các cuộc tranh luận trên mạng xã hội, một số ý kiến cho rằng đề thi chuyên có quyền hỏi ngoài chương trình. Quan điểm của bà về ý kiến này như thế nào?

- Đây là lối tư duy đánh đồng hai yếu tố: độ khó của đề thi và phạm vi kiến thức của đề thi.

Đề thi chuyên cần khó hơn, yêu cầu cao hơn đề thi đại trà. Nhưng khó hơn không đồng nghĩa với việc đề thi nằm ngoài yêu cầu cần đạt của chương trình GDPT 2018.

Nếu chúng ta mặc nhiên quan niệm “đề chuyên có quyền hỏi ngoài chương trình” sẽ dẫn đến một hệ quả về mặt công bằng của kỳ thi: ranh giới của đề thi sẽ nằm ở hiểu biết của người ra đề, không phải ở kiến thức - kĩ năng đã được hình thành trước đó của người thi. Học sinh không thể chuẩn bị cho một đề thi mà giới hạn của nó là “mở”, “không có giới hạn”.

Do đó, nếu chúng ta chấp nhận quan điểm trên về đề văn chuyên, nó sẽ hợp thức hóa việc ra đề nằm ngoài chương trình Ngữ văn THCS 2018, đồng thời tạo áp lực cho học sinh và phụ huynh phải học vượt chương trình từ rất sớm để “đề phòng” đề ra liên quan đến kiến thức, thuật ngữ lớp 10.

Đây là một cuộc chạy đua không có điểm dừng.

Hơn nữa, việc ra đề ngoài chương trình sẽ làm mất ý nghĩa của chương trình GDPT 2018, một chương trình được thiết kế với hệ thống yêu cầu cần đạt rõ ràng theo từng lớp, từng thể loại và là chương trình các em đều học, dù để thi trường thường hay thi trường chuyên.

Và như vậy, những cuộc tranh luận sẽ không bao giờ kết thúc liên quan đến đề chuyên, khi chúng ta không triệt để đặt ra câu hỏi: Nếu đề chuyên không bị ràng buộc bởi chương trình 2018, thì giới hạn của đề thi nằm ở đâu? Ai là người quyết định?

Tác giả SGK Chân trời sáng tạo: Đề thi chuyên vẫn cần bám chương trình - 2
Tác giả SGK Chân trời sáng tạo: Đề thi chuyên vẫn cần bám chương trình - 3

Dù đề thường hay đề chuyên, các câu hỏi phải là vùng kiến thức - kĩ năng học sinh đã được học

Liên quan tới câu 3 phần Đọc hiểu của đề thi, trong đó yêu cầu học sinh “nêu hiểu biết về nhân vật trữ tình “em gái tiền phương”, nhiều ý kiến cho rằng cách dùng khái niệm “nhân vật trữ tình” ở đây không đúng với tri thức ngữ văn phổ thông hiện hành. Ý kiến cá nhân của bà về vấn đề học thuật này?

Tôi sẽ không bàn luận về vấn đề khái niệm “nhân vật trữ tình” từ góc độ cá nhân. Tôi nêu ý kiến dựa trên bối cảnh thực tế chúng ta đang bàn luận.

Đây là một đề thi tuyển sinh vào lớp 10. Vì thế, dù là đề thường hay đề chuyên, các câu hỏi trong đề thi phải là vùng kiến thức - kĩ năng học sinh đã được học, bám sát tri thức ngữ văn về thể loại mà 3 bộ SGK trang bị cho học sinh.

Chương trình GDPT 2018 là chương trình có yêu cầu cần đạt cụ thể ở các khối lớp, có tri thức về các thuật ngữ được cài đặt trong các bài học ở các bộ SGK. Do đó, mọi tranh cãi không thể dựa trên vùng hiểu biết cá nhân mà phải dựa trên kiến thức mà SGK, nguồn tài liệu được Bộ Giáo dục và Đào tạo thẩm định, trang bị cho học sinh.

Ba bộ SGK hiện hành đều định nghĩa “nhân vật trữ tình” nhất quán theo một hướng.

Bộ Cánh Diều, lớp 10, tập 1, trang 68 ghi: “Nhân vật trữ tình (một dạng biểu hiện của chủ thể trữ tình) là người trực tiếp bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ… trong bài thơ”.

Bộ Kết nối tri thức, lớp 10, tập 1, trang 44 ghi: “Nhân vật trữ tình (còn gọi là chủ thể trữ tình) là người trực tiếp bộc lộ rung động và tình cảm trong bài thơ”.

Bộ Chân trời sáng tạo, lớp 10, tập 1, trang 63 định nghĩa “chủ thể trữ tình là khái niệm chỉ người thể hiện thái độ, cảm xúc, tư tưởng của mình trong suốt văn bản thơ” và ghi rõ chủ thể trữ tình có thể xuất hiện ở “dạng ẩn”.

Như vậy, cả ba bộ SGK Ngữ văn 10 đều xác định nhân vật trữ tình là chủ thể bộc lộ cảm xúc. Không có bộ sách nào định nghĩa khái niệm này theo nghĩa bao gồm cả đối tượng trữ tình.

Trong bài thơ Lá đỏ, toàn bộ cảm xúc, suy nghĩ, thái độ đều xuất phát từ người chiến sĩ đang hành quân, chủ thể ẩn của bài thơ. Em gái tiền phương là người được hướng đến, là đối tượng của cảm xúc đó.

Tôi đồng ý rằng trong nghiên cứu lí luận văn học chuyên sâu, có những cách tiếp cận khác nhau đối với các khái niệm/thuật ngữ. Tuy nhiên, đó là không gian của nghiên cứu học thuật, của các chuyên gia, không phải không gian của đề thi phổ thông.

Bởi dù là đề thi chuyên, các em học sinh vẫn học theo SGK của chương trình 2018 và không được trang bị những kiến thức, khái niệm nằm ngoài chương trình.

Những nội dung mà bà vừa phân tích đặt ra một vấn đề khác: Đâu là ranh giới của “sáng tạo” và “mở” trong một đề thi?

- “Sáng tạo” và “mở” là những giá trị tích cực trong kiểm tra đánh giá, nhất là với đề thi chuyên. Nhưng chúng cần được hiểu trong mối quan hệ với một hệ quy chiếu cụ thể, ở đây là chương trình GDPT 2018 và hệ thống tri thức được quy định trong các bộ SGK đã thẩm định.

Ranh giới này thể hiện ở chỗ, một đề thi chuyên sáng tạo và mở khi nó thay đổi cách hỏi nhưng không thay đổi vùng kiến thức được hỏi.

Cụ thể, người ra đề hoàn toàn có thể sáng tạo theo nhiều hướng mà vẫn bám sát chương trình, như lựa chọn ngữ liệu mới là những văn bản đúng thể loại đã học nhưng có chủ đề sâu sắc, thể hiện thông điệp, tư tưởng mới mẻ, đặt ra các vấn đề đòi hỏi học sinh tư duy đa chiều.

Tác giả SGK Chân trời sáng tạo: Đề thi chuyên vẫn cần bám chương trình - 4

Thí sinh thi lớp 10 Trường THPT chuyên Khoa học Xã hội và Nhân văn năm 2026 (Ảnh: Mai Thu Duyên).

Đề thi cũng có thể nâng mức độ tư duy trong cùng một yêu cầu cần đạt. Ví dụ, thay vì hỏi ở mức độ “nhận biết” có thể chuyển sang mức độ “phân tích”, thay vì yêu cầu “chỉ ra”, có thể yêu cầu học sinh “đánh giá hiệu quả”. Câu hỏi phân hoá sẽ là thước đo năng lực đọc sâu, đọc tinh của học sinh giỏi.

Ngoài ra, người ra đề hoàn toàn có thể kết hợp nhiều yêu cầu cần đạt trong cùng một câu hỏi, chẳng hạn yêu cầu học sinh phân tích mối quan hệ giữa kết cấu và mạch cảm xúc, hoặc đánh giá tác dụng của vần và nhịp trong việc thể hiện cảm hứng chủ đạo.

Những câu hỏi như vậy đòi hỏi tư duy tổng hợp, phù hợp với đề thi chuyên, và hoàn toàn có căn cứ trong chương trình lớp 8-9.

Một đề thi thực sự sáng tạo không cần đến những thuật ngữ ngoài chương trình để tạo ra thách thức. Nó tạo ra thách thức bằng cách khai thác triệt để và tinh tế những kĩ năng đọc hiểu mà chương trình đã trao cho học sinh.

Trước khi đề cập tới sự “mới lạ” hay “độ mở” của câu hỏi - những yếu tố quan trọng, không thể thiếu trong đề văn, nhất là văn chuyên - chúng ta cần một đề văn có sự chính xác của thuật ngữ và khái niệm, sự rõ ràng về yêu cầu cần đạt trong chương trình mà học sinh được học, tính nhất quán giữa những gì được cam kết với những gì được thực hiện và khả năng đo lường công bằng năng lực của mọi thí sinh trong cùng một chương trình học tập.

Bởi đích đến của một kỳ thi không chỉ là điểm số của học sinh mà là sự tự tin của các em khi phát huy được những năng lực mình đã cần mẫn, chăm chỉ cố gắng trong suốt chặng đường 4 năm THCS.

- Trân trọng cảm ơn bà về những trao đổi này!