Quy định mới về kê khai tài sản, thu nhập có hiệu lực từ 1/7

(Dân trí) - Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) và Nghị định 164/2026 về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị có hiệu lực từ 1/7 với nhiều quy định mới.

Một trong những điểm mới đáng chú ý tại Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) có hiệu lực từ 1/7 là yêu cầu kê khai bổ sung được thực hiện khi người có nghĩa vụ kê khai có biến động về tài sản, thu nhập trong năm có giá trị từ 1 tỷ đồng trở lên.

Việc kê khai phải hoàn thành trước ngày 31/12 của năm có biến động về tài sản, thu nhập, trừ trường hợp đã kê khai theo quy định.

Tài sản, thu nhập phải kê khai bao gồm: Quyền sử dụng đất, nhà ở, công trình xây dựng và tài sản khác gắn liền với đất, nhà ở, công trình xây dựng; kim khí quý, đá quý, tiền, giấy tờ có giá và tài sản khác mà mỗi loại tài sản có giá trị từ 150 triệu đồng trở lên (trước đây là 50 triệu đồng); tài sản, tài khoản ở nước ngoài; tổng thu nhập giữa 2 lần kê khai.

Trường hợp phát hiện có biến động tài sản, thu nhập trong năm từ 1 tỷ đồng trở lên mà người có nghĩa vụ kê khai không kê khai thì cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập yêu cầu người đó cung cấp, bổ sung thông tin có liên quan.

Trường hợp tài sản, thu nhập có biến động tăng thì phải giải trình về nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm.

Quy định mới về kê khai tài sản, thu nhập có hiệu lực từ 1/7 - 1

Cán bộ có kim khí quý, đá quý, tiền và tài sản khác mà mỗi loại tài sản có giá trị từ 150 triệu đồng trở lên phải kê khai tài sản (Ảnh minh họa: Kiểm toán Nhà nước).

Luật mới cũng mở rộng, làm rõ đối tượng phải kê khai tài sản, thu nhập hằng năm, bao gồm các trường hợp: Từ phó vụ trưởng và tương đương trở lên công tác tại bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan, tổ chức, đơn vị khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập; giám đốc sở và tương đương trở lên công tác tại chính quyền địa phương.

Cũng có hiệu lực từ ngày 1/7, Nghị định 164/2026 của Chính phủ về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nêu rõ, tài sản, thu nhập phải kê khai là tài sản của người có nghĩa vụ kê khai, vợ (chồng) và con chưa thành niên của người có nghĩa vụ kê khai.

Các tài sản này bao gồm: Quyền sử dụng đất; nhà ở, công trình xây dựng; tài sản khác gắn liền với đất; vàng, kim cương, bạch kim và các kim khí quý, đá quý khác mà mỗi loại có tổng giá trị từ 150 triệu đồng trở lên; tiền (tiền Việt Nam, ngoại tệ) gồm tiền mặt, tiền cho vay, tiền trả trước, tiền gửi cá nhân, tổ chức trong nước, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam mà tổng giá trị quy đổi từ 150 triệu đồng trở lên; cổ phiếu, trái phiếu, vốn góp, các loại giấy tờ có giá khác mà tổng giá trị từ 150 triệu đồng trở lên; tài sản số, tài sản khác mà mỗi loại có giá trị từ 150 triệu đồng trở lên; các khoản nợ có giá trị từ 150 triệu đồng trở lên; tài sản ở nước ngoài; tài khoản ở nước ngoài…

Việc kê khai lần đầu, kê khai hằng năm, kê khai bổ sung, kê khai phục vụ công tác cán bộ được thực hiện theo mẫu ban hành kèm theo nghị định này.

Điều 10 Nghị định 164 quy định người có nghĩa vụ kê khai theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 36 của Luật Phòng, chống tham nhũng bao gồm:

- Người giữ chức vụ từ trưởng phòng và tương đương có phụ cấp chức vụ từ 0,25 trở lên công tác tại các cơ quan nhà nước; trưởng phòng và tương đương trở lên công tác tại doanh nghiệp nhà nước ở các vị trí việc làm phụ trách trực tiếp công tác: tổ chức cán bộ, quản lý tài chính công, tài sản công, đầu tư công hoặc trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân.

- Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

- Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch UBND cấp tỉnh ban hành danh mục người có nghĩa vụ kê khai theo quy định.

Người có quyền yêu cầu cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập để phục vụ việc theo dõi biến động, xây dựng kế hoạch xác minh và xác minh tài sản, thu nhập, bao gồm: Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập; tổ trưởng tổ xác minh tài sản, thu nhập; cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân được yêu cầu cung cấp thông tin (sau thời hạn thông tin theo yêu cầu của người có quyền yêu cầu và chịu trách nhiệm về thông tin do mình cung cấp).