DNews
Thời sự

Những phẩm chất làm nên thiên tài báo chí Hồ Chí Minh

(Dân trí) - Những phẩm chất nào đã làm nên nhà báo thiên tài Hồ Chí Minh và người làm báo chúng ta hiện nay có thể học được gì từ Người về nghề nghiệp, văn hóa và trách nhiệm của ngòi bút?

Nói đến Hồ Chí Minh là nói đến một lãnh tụ cách mạng vĩ đại, một danh nhân văn hóa thế giới. Nhưng nếu nhìn từ góc độ nghề nghiệp báo chí, có thể nói Người còn là một hiện tượng đặc biệt của lịch sử báo chí - truyền thông Việt Nam hiện đại, người khai sinh nền báo chí cách mạng, mà còn là một nhà báo thiên tài với một phong cách đặc biệt.

Vậy những phẩm chất nào đã làm nên nhà báo thiên tài Hồ Chí Minh và người làm báo chúng ta hiện nay có thể học được gì từ Người về nghề nghiệp, về văn hóa và về trách nhiệm của ngòi bút trước Nhân dân, dân tộc và đất nước?

Những phẩm chất làm nên thiên tài báo chí Hồ Chí Minh - 1

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người thầy vĩ đại của những người làm báo cách mạng Việt Nam (Ảnh: TTXVN).

Hồ Chí Minh - Bậc thầy của ngôn ngữ đại chúng

Có thể nói, một trong những phẩm chất nổi bật, dễ nhận thấy nhất, làm nên thiên tài báo chí Hồ Chí Minh chính là nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ đại chúng. Điều đáng kinh ngạc là: Hồ Chí Minh viết rất giản dị, nhưng càng đọc càng thấy sâu sắc; câu chữ rất gần gũi nhưng sức lay động lại vô cùng lớn.

Người không viết để phô diễn tri thức, càng không viết để tạo ra thứ văn chương cầu kỳ dành riêng cho tầng lớp tinh hoa. Người viết để Nhân dân hiểu, quần chúng nhớ, đồng bào có thể làm theo và hành động. Nói cách khác, Người đã biến ngôn ngữ thành sức mạnh thức tỉnh xã hội; biến lời nói giản dị thành nguồn động viên, hiệu triệu và dẫn dắt cả một dân tộc.

Đó là một trình độ rất cao của báo chí. Bởi viết cho người có học đã khó, nhưng viết để hàng triệu người bình dân đều có thể tiếp nhận mà vẫn giữ được chiều sâu tư tưởng thì khó hơn rất nhiều.

Trong các bài viết, bài nói chuyện của mình, Bác sử dụng rất nhiều thành ngữ, tục ngữ, lối ví von dân gian. Đó chính là “lời ăn tiếng nói” của Nhân dân, được Nhân dân đúc kết, tinh luyện lại nên rất sâu sắc, rất dễ hiểu đối với Nhân dân. Nhưng điều đáng chú ý là Người không dùng như một sự “trang trí ngôn ngữ”, mà biến vốn văn hóa dân gian ấy thành phương tiện truyền tải tư tưởng chính trị và triết lý xã hội.

Những câu như “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”, “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”, hay cách Người ví tham ô, lãng phí như “giặc nội xâm”... đều là những ví dụ điển hình cho khả năng đưa những vấn đề lớn lao của quốc gia trở về với nhận thức đời thường của quần chúng. Đó không chỉ là tài viết báo. Đó là trí tuệ truyền thông hòa quyện với tấm lòng trong sáng hướng về cội nguồn văn hóa dân tộc.

Đặc biệt, trong nhiều tác phẩm báo chí, Hồ Chí Minh thường dùng thơ như một cách diễn đạt mang tính khái quát hay thay cho kết luận một bài báo. Với mấy câu thơ không chỉ diễn đạt được ý khái quát của một đoạn, một phần hay cả bài viết một cách ngắn gọn, cô đọng, mà hơn thế còn tạo nên ấn tượng mạnh mẽ, khắc ghi vào nhận thức của người đọc, giúp người ta dễ nhớ và nhớ lâu.

Đó cũng chính là một cách sử dụng ngôn ngữ quần chúng, văn hóa người dân để tăng cường hiệu quả tác động của tác phẩm báo chí. Nó chính là kết quả của sự hiểu biết sâu sắc văn hóa dân tộc và một ý thức thường trực hướng về nhân dân, phụng sự nhân dân, cơ sở làm nên phong cách ngôn ngữ báo chí Hồ Chí Minh.

Ngày nay, chúng ta thường nói đến “truyền thông đại chúng”, “nghiên cứu công chúng”, “kỹ năng kể chuyện”, “mô hình thông tin”... Nhưng trên thực tế, từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã thực hiện điều ấy bằng một năng lực thiên bẩm và một sự thấu hiểu sâu sắc tâm lý dân tộc. Người hiểu rằng, muốn lay động quần chúng thì trước hết phải nói bằng ngôn ngữ của quần chúng.

Có một điều rất đáng suy ngẫm đối với báo chí hôm nay. Đó là trong khi nhiều người cố sử dụng những mỹ từ thời thượng, cố làm cho câu chữ trở nên phức tạp để chứng tỏ trình độ, thì Hồ Chí Minh lại đi theo hướng ngược lại, càng lớn lao càng diễn đạt giản dị. Nhưng sự giản dị của Hồ Chí Minh không hề đơn giản. Đó là sự giản dị sau khi tư tưởng đã đạt đến độ cô đọng và sáng rõ.

Có lẽ vì vậy mà nhiều câu nói của Người đã vượt ra khỏi phạm vi báo chí để trở thành một phần của trí nhớ văn hóa dân tộc.

Hồ Chí Minh - Người có ý thức đặc biệt về sự trong sáng của tiếng Việt

Một phẩm chất khác cũng rất đặc biệt ở Hồ Chí Minh, đó là ý thức sâu sắc trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Nếu nhìn rộng hơn, chúng ta có thể nói: Hồ Chí Minh không chỉ sử dụng tiếng Việt xuất sắc, mà còn góp phần định hình phong cách tiếng Việt hiện đại trong báo chí và chính luận cách mạng.

Người đặc biệt phê phán lối viết cầu kỳ, sính chữ, xa lạ với đời sống Nhân dân, hoặc lạm dụng những cách diễn đạt khó hiểu. Bác từng nhắc nhở rất thẳng thắn rằng viết mà dân không hiểu thì viết làm gì.

Đó không chỉ là yêu cầu nghề nghiệp. Đó còn là quan niệm dân chủ trong truyền thông. Bởi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, ngôn ngữ báo chí không phải công cụ để tạo khoảng cách giữa người viết với quần chúng, mà phải là chiếc cầu nối giữa tư tưởng với đời sống xã hội.

Những phẩm chất làm nên thiên tài báo chí Hồ Chí Minh - 2

Bác Hồ thăm và nói chuyện với cán bộ, phóng viên báo Nhân Dân, tháng 1/1957 (Ảnh tư liệu: Bộ Tư lệnh Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh).

Điều đáng quý, tiếng Việt trong các tác phẩm báo chí của Hồ Chí Minh vừa giản dị, vừa hiện đại, vừa giàu tính dân tộc, lại vừa có khả năng diễn đạt những tư tưởng chính trị lớn của thời đại.

Những câu như: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”, “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết”... thực chất không chỉ là khẩu hiệu chính trị. Đó còn là những mẫu mực đặc biệt của ngôn ngữ báo chí và diễn ngôn công chúng ngắn gọn, giàu nhạc tính, có tiết tấu, cảm xúc và khả năng khắc sâu vào trí nhớ xã hội.

Ngày nay, trong bối cảnh mạng xã hội phát triển với tốc độ chưa từng có, tiếng Việt đang đứng trước rất nhiều thách thức như: Sự lai căng ngôn ngữ, lối diễn đạt cẩu thả, văn hóa giật gân, sự dễ dãi trong sử dụng câu chữ dẫn đến phá vỡ tính chuẩn mực, sự trong sáng.

Trong bối cảnh ấy, nhìn lại phong cách ngôn ngữ Hồ Chí Minh không chỉ là câu chuyện học tập một bậc tiền bối, mà còn là nhắc lại trách nhiệm văn hóa của người làm báo đối với tiếng Việt, tiếng nói của dân tộc. Bởi suy cho cùng, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt cũng chính là giữ gìn phẩm giá văn hóa của một dân tộc, một quốc gia.

Hồ Chí Minh - Thiên tài biến những tư tưởng lớn thành điều bình dị

Nếu chỉ nhìn Hồ Chí Minh như một nhà báo có tài viết sắc sảo thì vẫn chưa đủ. Điều làm nên tầm vóc đặc biệt của Người còn nằm ở một năng lực hiếm có, đó là biến những tư tưởng chính trị lớn lao, phức tạp thành những điều giản dị mà quần chúng có thể hiểu, nhớ và hành động. Đây là phẩm chất rất ít người có.

Trong lịch sử, không thiếu những nhà tư tưởng lớn nhưng nhiều tư tưởng càng lớn lại càng xa quần chúng, càng khó tiếp cận đời sống xã hội. Hồ Chí Minh là một trường hợp đặc biệt. Người có khả năng đưa tri thức chính trị trở về với đời thường của quần chúng, hòa hợp với lối sống, cách nghĩ của Nhân dân.

Có thể nói, Hồ Chí Minh là một thiên tài trong việc “dịch” tư tưởng lớn thành ngôn ngữ đời sống. Người không diễn giải cách mạng bằng những khái niệm trừu tượng khô cứng. Người diễn đạt bằng hình ảnh, bằng ví dụ, bằng những điều gần gũi với tâm lý dân tộc

Khi nói về đoàn kết, Người không trình bày như một luận đề chính trị phức tạp, mà nói: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/Thành công, thành công, đại thành công”. Khi nói về cán bộ, Người không dùng thứ ngôn ngữ quyền lực, mà nói: “Cán bộ là đầy tớ của nhân dân”. Khi nói về tham ô, lãng phí, quan liêu, Người gọi đó là “giặc nội xâm”.

Chỉ hai chữ “giặc nội xâm” thôi đã làm thay đổi hoàn toàn nhận thức xã hội. Nó khiến người dân hiểu rằng, tham nhũng không chỉ là khuyết điểm quản lý, mà là mối nguy đối với sự tồn vong của chế độ và lòng tin của nhân dân. Đó chính là sức mạnh của báo chí và truyền thông, không chỉ chuyển tải thông tin, mà định hình nhận thức xã hội.

Ngày nay, trong khoa học truyền thông hiện đại, người ta nói nhiều đến “framing” - tức là tạo khung nhận thức cho công chúng. Nhưng thực ra, từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã thực hiện điều ấy bằng một tư duy truyền thông đặc biệt sắc bén. Người hiểu rằng, muốn quần chúng tiếp nhận tư tưởng thì trước hết phải giúp họ hình dung được tư tưởng ấy trong đời sống thực tế.

Bởi vậy, càng nghiên cứu báo chí Hồ Chí Minh, chúng ta càng thấy đây không chỉ là tài năng viết báo, mà còn là nghệ thuật dẫn dắt nhận thức xã hội bằng ngôn ngữ giản dị. Và điều đặc biệt là sự giản dị ấy chưa bao giờ làm tư tưởng trở nên nông cạn. Trái lại, càng giản dị càng hàm chứa chiều sâu. Đó là dấu hiệu của trí tuệ lớn.

Hồ Chí Minh - Bậc thầy thấu hiểu công chúng

Một phẩm chất rất đáng chú ý ở Hồ Chí Minh là khả năng thấu hiểu công chúng ở mức độ hiếm có. Ngày nay, báo chí hiện đại nói nhiều đến nghiên cứu công chúng, phân khúc đối tượng, tâm lý tiếp nhận, chiến lược truyền thông. Nhưng trên thực tế, Hồ Chí Minh đã vận dụng rất sâu sắc những nguyên lý ấy từ rất sớm.

Người luôn hiểu rằng, viết cho ai, nói với ai, viết để làm gì và nói thế nào để người nghe tiếp nhận. Đây là điều tưởng đơn giản nhưng lại vô cùng khó. Hơn nữa, đó cũng chính là chìa khóa mở ra hiệu quả làm báo, năng lực sống còn đánh giá tài năng của một người làm báo.

Đọc các tác phẩm báo chi của Người, người ta không có cảm giác đang nghe một lãnh tụ “chỉ giáo”, “ban phát chân lý”, mà như đang nghe một người trong Nhân dân nói tiếng nói của chính Nhân dân. Đó là lý do vì sao những bài báo, bài nói chuyện của Người có sức sống rất lâu dài.

Trong phong cách báo chí Hồ Chí Minh còn có một phẩm chất rất đặc biệt - sự hóm hỉnh, dí dỏm và giàu chất trào lộng. Đây là một nét rất riêng. Nhiều bài viết của Người, nhất là trong thời kỳ hoạt động ở Pháp, chứa đựng một thứ tiếng cười rất sắc sảo.

Đó không phải tiếng cười mua vui, càng không phải thứ hài hước dễ dãi. Đó là tiếng cười của trí tuệ, của bản lĩnh văn hóa và của một tư duy phê phán rất hiện đại. Bác hiểu rất rõ: có những lúc một tiếng cười có sức công phá mạnh hơn nhiều lời lên án.

Phẩm chất hài hước, giầu chất trào lộng ấy đã làm nên một cây bút tiểu phẩm báo chí Hồ Chí Minh vô cùng đặc sắc. Có thể nói, Người là cây bút tiểu phẩm thiên tài, thể hiện qua sự phát hiện đề tài, vấn đề, chọn chi tiết, các sử dụng ngôn từ, phiên âm, dịch nghĩa, đến việc hình thành những nút thắt kịch tính để tạo nên tiếng cười châm biếm hài hước, phù hợp với từng đối tượng.

Nhưng nếu chỉ nói đến sự hóm hỉnh thôi thì chưa đủ để thấy hết tầm vóc nghề nghiệp của Hồ Chí Minh. Bởi phía sau phong cách giản dị, dí dỏm ấy lại là một tinh thần lao động báo chí cực kỳ nghiêm túc và một kỷ luật nghề nghiệp rất nghiêm khắc. Đây là phẩm chất mà những người làm báo hôm nay có lẽ cần suy ngẫm nhiều.

Hồ Chí Minh chưa bao giờ xem báo chí là công việc tùy hứng. Với Người, viết báo là một trách nhiệm xã hội lớn lao. Bởi vậy, Người đặc biệt coi trọng điều tra, kiểm chứng, tính chính xác, sự ngắn gọn, và hiệu quả xã hội của thông tin. Bác từng căn dặn: “Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chớ nói, chớ viết”.

Chỉ một câu ấy thôi đã hàm chứa gần như toàn bộ tinh thần nghề nghiệp của báo chí hiện đại: tôn trọng sự thật, tôn trọng kiểm chứng và tôn trọng trách nhiệm xã hội của ngòi bút.

Điều đáng chú ý là Hồ Chí Minh rất ghét lối viết dài dòng, rỗng chữ, khoa trương, nói mà không có thông tin thực chất. Người luôn yêu cầu: viết ngắn, viết rõ, viết để người đọc hiểu được ngay điều cốt lõi.

Có thể nói, trong tư duy báo chí Hồ Chí Minh, sự ngắn gọn là biểu hiện của tư duy mạch lạc và trách nhiệm đối với tâm lý tiếp nhận và thời gian của công chúng. Đây là một vấn đề rất hiện đại.

Hồ Chí Minh - Một nhân cách báo chí lớn

Cần khẳng định rằng, điều làm cho báo chí Hồ Chí Minh có giá trị to lớn, sức sống lâu bền không chỉ là kỹ thuật viết, không chỉ là tài năng lập luận, cũng không chỉ là nghệ thuật dùng chữ. Cái gốc sâu xa hơn chính là nhân cách của người cầm bút.

Hồ Chí Minh viết báo trước hết không phải để thể hiện mình, mà để phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân, phục vụ sự nghiệp độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.

Người không coi báo chí là nơi phô diễn tri thức cá nhân, càng không dùng báo chí như một phương tiện tạo dựng danh tiếng riêng. Với Người, ngòi bút là trách nhiệm; trang báo là trận địa; mỗi bài viết là một hành động chính trị, văn hóa và đạo đức.

Chính vì vậy, trong báo chí Hồ Chí Minh, ta thấy một sự thống nhất rất cao giữa nói và làm, tư tưởng và hành động, ngôn từ và nhân cách.

Người viết về Nhân dân vì Người sống trong Nhân dân. Người nói về đạo đức vì chính đời sống của Người là một mẫu mực đạo đức. Người phê phán quan liêu, tham ô, lãng phí không phải từ vị trí đứng ngoài để lên án, mà từ trách nhiệm của người suốt đời lo cho dân, đau với nỗi đau của dân, sốt ruột trước những gì làm tổn hại đến dân. Đó là điều rất căn bản.

Một người viết báo có thể có kỹ thuật giỏi, có văn phong hay, có lập luận sắc bén, nhưng nếu thiếu sự trung thực, thiếu lòng yêu nước, thiếu tình thương Nhân dân, thiếu trách nhiệm xã hội, thì ngòi bút ây khó có thể tạo nên giá trị lâu dài.

Ở Hồ Chí Minh, đạo đức báo chí không phải là những lời khuyên chung chung. Đạo đức ấy kết tinh trong từng lựa chọn chữ nghĩa, từng cách nêu vấn đề, từng thái độ đối với sự thật, từng cách ứng xử với công chúng. Người viết giản dị vì tôn trọng Nhân dân.

Người viết ngắn gọn vì muốn người đọc tiếp thu dễ dàng, thuận lợi. Người viết chính xác vì coi sự thật là nền tảng của niềm tin. Người viết có trách nhiệm vì hiểu rằng mỗi dòng chữ đều có thể tác động đến nhận thức, tình cảm và hành động của con người.

Trong thời đại số, khi thông tin có thể lan truyền trong vài giây, khi ranh giới giữa thật và giả, đúng và sai, thông tin và thao túng ngày càng phức tạp, thì nhân cách người làm báo càng trở thành vấn đề sống còn. Một sai lệch nhỏ có thể gây hậu quả lớn. Một sự dễ dãi với sự thật có thể làm tổn thương xã hội. Một ngòi bút thiếu trách nhiệm có thể làm suy giảm niềm tin, gieo hoang mang, kích động định kiến hoặc làm méo mó nhận thức cộng đồng.

Nhìn từ Hồ Chí Minh, người làm báo không chỉ cần “có nghề”, mà trước hết phải có trách nhiệm. Đó là trách nhiệm với Tổ quốc. Trách nhiệm với Nhân dân. Trách nhiệm với sự thật. Trách nhiệm với lương tâm nghề nghiệp.

Nhân cách báo chí Hồ Chí Minh còn thể hiện ở một điểm rất đặc biệt: sự khiêm nhường của người cầm bút. Người viết rất nhiều, viết rất hay, có sức ảnh hưởng rất lớn, nhưng không bao giờ làm ra vẻ là người đứng trên công chúng. Trái lại, Người luôn nhắc người viết phải học Nhân dân, hiểu Nhân dân, nói tiếng nói của Nhân dân. Đó là một thái độ nghề nghiệp rất cao quý.

Bởi người làm báo nếu tự đặt mình cao hơn Nhân dân thì sẽ dễ rơi vào giáo điều. Nếu xa đời sống thì chữ nghĩa sẽ khô cứng. Nếu thiếu khiêm nhường thì thông tin dễ biến thành sự phán xét. Nếu thiếu tình thương thì phê bình dễ trở thành miệt thị.

Hồ Chí Minh cho thấy ngòi bút mạnh nhất không phải là ngòi bút ồn ào nhất, mà là ngòi bút chân thành nhất, trong sáng nhất, có trách nhiệm nhất. Và chính ở đây, báo chí Hồ Chí Minh vượt lên trên phạm vi kỹ năng để trở thành một chuẩn mực văn hóa.

Có thể nói, nhân cách báo chí Hồ Chí Minh là sự kết tinh của bốn giá trị lớn: Trung thực, Nhân dân, trách nhiệm và phụng sự. Đó là phẩm chất bao trùm, nâng đỡ tất cả các phẩm chất còn lại.

Vì thế, khi nói “Bác Hồ làm báo”, điều cuối cùng cần nhấn mạnh không chỉ là Bác viết báo hay như thế nào, mà là: Bác đã làm báo bằng cả một nhân cách lớn.

Và đó chính là lý do báo chí Hồ Chí Minh không cũ đi theo thời gian. Ngược lại, càng trong thời đại nhiễu loạn thông tin hôm nay, nhân cách báo chí Hồ Chí Minh càng trở thành một điểm tựa để chúng ta suy ngẫm về nghề, về đạo đức nghề nghiệp và về trách nhiệm xã hội của người câm bút.

Người làm báo hôm nay học được gì từ Hồ Chí Minh?

Khi nói về Hồ Chí Minh, điều quan trọng nhất có lẽ không phải chỉ để ca ngợi một nhà báo lớn của dân tộc, mà sâu xa hơn là để tự đặt ra cho mình một câu hỏi: Hôm nay, những người làm báo chúng ta có thể học được gì từ Người?

Bởi xét cho cùng, giá trị lớn nhất của một di sản không nằm ở sự tôn vinh quá khứ, mà ở khả năng soi sáng hiện tại và định hướng tương lai. Và càng nhìn vào đời sống báo chí hôm nay, chúng ta càng thấy những bài học từ Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên tính thời sự.

Điều thứ nhất phải học từ Người là học trách nhiệm xã hội của ngòi bút. Hồ Chí Minh chưa bao giờ xem báo chí là công cụ phục vụ danh tiếng cá nhân hay thỏa mãn cái tôi nghề nghiệp. Với Người, viết báo là một trách nhiệm trước dân tộc, trước Nhân dân và trước sự thật.

Ngày nay, khi môi trường truyền thông phát triển với tốc độ chưa từng có, khi thông tin có thể lan đi chỉ trong vài giây, trách nhiệm ấy càng trở nên nặng nề hơn.

Một dòng tin thiếu kiểm chứng có thể gây tổn thương cho con người. Một cách giật tít vô trách nhiệm có thể tạo ra hoang mang xã hội. Một sự dễ dãi với sự thật có thể làm xói mòn niềm tin công chúng. Trong bối cảnh ấy, lời căn dặn của Hồ Chí Minh: “Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chớ nói, chớ viết” không chỉ là yêu cầu nghiệp vụ, mà còn là chuẩn mực đạo đức nghề báo.

Điều thứ hai cần học ở Hồ Chí Minh là học cách gần Nhân dân. Có lẽ chưa có nhà báo nào ở Việt Nam hiểu sâu sắc sức mạnh của Nhân dân như Hồ Chí Minh.

Người viết bằng ngôn ngữ của Nhân dân, nói từ cuộc sống của Nhân dân và hướng ngòi bút về lợi ích của Nhân dân.

Ngày nay, báo chí đang đứng trước một thách thức lớn: khoảng cách giữa truyền thông với công chúng có lúc đang bị kéo giãn. Có nơi thông tin nhiều hơn nhưng sự đồng cảm lại ít hơn; kỹ thuật hiện đại hơn nhưng tiếng nói đời sống thật đôi khi lại nhỏ đi.

Nhìn từ Hồ Chí Minh, người làm báo muốn có sức sống lâu dài thì phải: đi vào đời sống thật, lắng nghe hơi thở thật của xã hội, hiểu những lo toan thật của con người, và nói bằng tiếng nói mà Nhân dân cảm thấy có mình trong đó. Bởi báo chí nếu xa Nhân dân thì cuối cùng sẽ mất đi nguồn sức mạnh lớn nhất của mình.

Những phẩm chất làm nên thiên tài báo chí Hồ Chí Minh - 3

Phóng viên báo chí tác nghiệp tại một sự kiện mới đây (Ảnh: SGGP).

Điều thứ ba cần học ở Hồ Chí Minh là học sự trung thực và trong sáng trong nghề nghiệp. Trong suốt cuộc đời làm báo, Hồ Chí Minh đặc biệt ghét sự khoa trương, giả dối, nói quá sự thật hoặc dùng chữ nghĩa để che lấp thực chất vấn đề. Điều đó đáng suy nghĩ hôm nay.

Trong thời đại mạng xã hội, khi áp lực tốc độ, lượt xem và cạnh tranh thông tin ngày càng lớn, người làm báo rất dễ bị cuốn vào tâm lý: đưa tin thật nhanh, tạo hiệu ứng thật mạnh, gây chú ý thật nhiều. Nhưng Hồ Chí Minh cho thấy điều làm nên giá trị bền vững của báo chí không phải sự ồn ào nhất thời, mà là độ tin cậy lâu dài.

Công chúng có thể bị thu hút bởi cảm xúc tức thời, nhưng chỉ gắn bó lâu dài với nơi nào họ tin là trung thực.

Điều thứ tư cần học từ Hồ Chí Minh là: học sự giản dị trong tư duy và diễn đạt. Có một nghịch lý trong nghề báo: nhiều khi người viết càng thiếu chiều sâu lại càng thích dùng chữ phức tạp; trong khi những tư tưởng lớn thật sự thường được diễn đạt rất giản dị. Hồ Chí Minh là minh chứng rõ nhất cho điều ấy.

Người viết ngắn gọn nhưng hàm chứa tư tưởng lớn. Người dùng ngôn ngữ giản dị nhưng có sức lay động sâu xa. Người không dùng chữ nghĩa để tạo khoảng cách với công chúng, mà dùng ngôn ngữ để kết nối với công chúng. Đó là bài học rất lớn đối với báo chí hiện đại: truyền thông mạnh nhất không phải là truyền thông nhiều kỹ thuật nhất, mà là truyền thông chạm được tới con người.

Điều thứ năm cần học từ Hồ Chí Minh là: học văn hóa ứng xử của người cầm bút. Ngày nay, trong không gian số, đôi khi chúng ta chứng kiến sự cực đoan trong ngôn ngữ, sự dễ dãi trong phán xét và sự thiếu nhân văn trong một bộ phận thông tin truyền thông.

Trong khi đó, Hồ Chí Minh luôn giữ một phong cách tranh luận: sắc sảo nhưng không thóa mạ, kiên quyết nhưng không cực đoan, phê phán nhưng vẫn giàu lòng nhân ái.

Đó không chỉ là kỹ năng viết. Đó là văn hóa của người làm báo. Bởi suy cho cùng, báo chí không chỉ phản ánh trình độ nghề nghiệp của một xã hội, mà còn phản ánh trình độ văn hóa của xã hội ấy.

Và thứ sáu, điều lớn nhất cần học từ Hồ Chí Minh chính là: học làm báo bằng một nhân cách lớn. Ngày nay, công nghệ có thể thay đổi rất nhanh, trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ viết tin, dựng hình, xử lý dữ liệu và tạo nội dung với tốc độ khổng lồ nhưng có một điều công nghệ không thể thay thế. Đó là lương tâm, bản lĩnh và trách nhiệm xã hội của người cầm bút.

Hồ Chí Minh cho chúng ta hiểu rằng, người làm báo chân chính không chỉ là người có kỹ năng nghề nghiệp, mà còn phải là người có lòng yêu nước, có trách nhiệm với xã hội, có sự trung thực với sự thật, có tình thương con người, và có bản lĩnh bảo vệ điều đúng.

Bởi cuối cùng, điều làm nên sức mạnh của báo chí không chỉ nằm ở công nghệ hay phương tiện truyền tải, mà nằm ở phẩm chất của con người đứng phía sau ngòi bút ấy.

GS.TS Tạ Ngọc Tấn - Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương