“UAV hóa” chiến tranh và cuộc chạy đua làm chủ vũ khí tầm xa của Ukraine

(Dân trí) - Ukraine đã tạo một mô hình công nghiệp quốc phòng thời chiến đặc biệt, bao gồm sản xuất phân tán nhưng được kết nối bằng nền tảng số.

“UAV hóa” chiến tranh và cuộc chạy đua làm chủ vũ khí tầm xa của Ukraine - 1

Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky và Tổng thống Mỹ Donald Trump trong cuộc gặp tại Nhà Trắng tuần trước (Ảnh: Reuters).

Trong hơn 4 năm xung đột, Ukraine đã chuyển từ vị thế một quốc gia chủ yếu chờ đợi vũ khí viện trợ sang xây dựng một nền công nghiệp quốc phòng thời chiến có quy mô lớn, tốc độ đổi mới nhanh và mức độ quốc tế hóa ngày càng sâu. Nhưng “tự chủ” của Kiev không đồng nghĩa với việc tách khỏi phương Tây.

Đó là quá trình thay đổi hình thức phụ thuộc: từ nhập khẩu sản phẩm hoàn chỉnh sang huy động vốn, công nghệ, linh kiện và năng lực sản xuất của đối tác để tạo ra vũ khí trong nước.

Đến giữa năm 2026, vấn đề đặt ra đối với Ukraine không còn đơn thuần là có nhận được thêm một số tổ hợp phòng không, tên lửa hay đạn pháo từ phương Tây hay không. Thách thức lớn hơn là làm thế nào để duy trì sức chiến đấu lâu dài khi viện trợ của Mỹ trở nên khó dự đoán, kho dự trữ của nhiều nước NATO suy giảm, còn các hợp đồng sản xuất mới thường phải chờ nhiều năm mới được giao hàng.

Ngày 27/7, hãng tin Reuters cho biết Lầu Năm Góc dự kiến phải đến tài khóa 2029 mới giải ngân và hoàn tất việc sử dụng 400 triệu USD đã được Quốc hội Mỹ phê chuẩn cho Ukraine. Trong khi đó, các đợt giao vũ khí từng nhiều lần bị trì hoãn vì Washington lo ngại kho dự trữ của chính mình xuống thấp.

Viện Kinh tế Thế giới Kiel ghi nhận hỗ trợ quân sự của châu Âu vẫn được duy trì ở mức đáng kể trong những tháng đầu năm 2026, nhất là đối với UAV, nhưng hỗ trợ tài chính và nhân đạo chậm lại do tiến độ giải ngân của EU. Như vậy, vấn đề không phải phương Tây hoàn toàn ngừng hỗ trợ, mà là viện trợ không còn đáp ứng đầy đủ tính cấp bách, quy mô và nhịp độ tiêu hao của chiến trường.

Từ sức ép đó, Kiev đã lựa chọn hướng đi mang tính cấu trúc, đó là biến ngành công nghiệp quốc phòng trong nước thành “tuyến hậu cần chiến lược”, đồng thời dùng kinh nghiệm chiến trường để đổi lấy vốn, thị trường và công nghệ quốc tế.

Từ “quân đội nhận viện trợ” đến nền kinh tế sản xuất vũ khí thời chiến

Theo Hội đồng An ninh và Quốc phòng Quốc gia Ukraine, năng lực sản xuất lý thuyết của ngành công nghiệp quốc phòng nước này năm 2026 có thể đạt khoảng 55 tỷ USD, cao gấp 55 lần so với thời điểm đầu chiến dịch quân sự của Nga năm 2022. Hơn 70% chi tiêu mua sắm quốc phòng của Ukraine năm 2025 được dành cho các nhà sản xuất trong nước. Ngành công nghiệp này hiện có khả năng đáp ứng hơn một nửa nhu cầu trang bị của quân đội Ukraine.

Con số 55 tỷ USD cần được hiểu là công suất sản xuất tiềm năng, không phải giá trị vũ khí đã được sản xuất và thanh toán đầy đủ. Khoảng cách giữa năng lực nhà máy và khả năng đặt hàng của ngân sách vẫn rất lớn. Quốc hội Ukraine tháng 6 nâng tổng chi tiêu quốc phòng năm nay lên mức kỷ lục 4.370 tỷ hryvnia (97,2 tỷ USD), nhưng ngân sách này còn phải trang trải lương, hậu cần, vận hành quân đội, sửa chữa hạ tầng và nhiều nhu cầu khác. Một phần đáng kể công suất sản xuất vũ khí vì thế vẫn thiếu đơn hàng hoặc nguồn tài chính dài hạn.

Dù vậy, tốc độ mở rộng của ngành quốc phòng Ukraine là đáng chú ý. Trước năm 2022, phần lớn năng lực quân sự của nước này nằm trong các tập đoàn nhà nước kế thừa từ Liên Xô, thường chịu ảnh hưởng của cơ chế quản lý cồng kềnh. Xung đột làm xuất hiện một lớp doanh nghiệp tư nhân mới, hoạt động linh hoạt hơn, tập trung vào UAV, tác chiến điện tử, cảm biến, AI, phần mềm chỉ huy và đạn dược chính xác.

Cụm đổi mới quốc phòng Brave1 cho biết đến cuối tháng 7 vừa qua, hệ sinh thái của tổ chức này có 2.500 doanh nghiệp với hơn 5.000 sản phẩm hoặc dự án; riêng lĩnh vực UAV có hơn 500 nhà sản xuất, tác chiến điện tử và tình báo tín hiệu có hơn 300 đơn vị, robot mặt đất và AI mỗi lĩnh vực có khoảng 200 doanh nghiệp. Đây không chỉ là sự gia tăng về số lượng, mà phản ánh sự chuyển dịch từ mô hình “một vài nhà máy lớn” sang mạng lưới sản xuất phi tập trung, trong đó nhiều doanh nghiệp nhỏ có thể sửa thiết kế, thay linh kiện và thử nghiệm sản phẩm chỉ trong vài tuần.

Brave1 giữ vai trò kết nối nhà phát triển, quân đội, cơ quan mua sắm và nhà đầu tư. Các sản phẩm được đưa ra đơn vị chiến đấu để thử nghiệm, nhận phản hồi rồi tiếp tục điều chỉnh. Cách làm này rút ngắn đáng kể khoảng cách giữa nghiên cứu và triển khai, trái ngược với chu kỳ phát triển kéo dài nhiều năm của các tập đoàn quốc phòng truyền thống.

Theo Reuters, chính tốc độ thích nghi đó khiến nhiều nước NATO bắt đầu nhìn Ukraine không chỉ như bên tiếp nhận hỗ trợ, mà còn như nguồn cung cấp kinh nghiệm về UAV, dữ liệu chiến trường, AI và chiến tranh điện tử. Nhà phân tích Joachim Klement nhận định NATO cần học từ Ukraine cách phát triển các hệ thống có chi phí thấp, sản xuất nhanh và liên tục được điều chỉnh theo môi trường tác chiến, thay vì chỉ ưu tiên các nền tảng lớn, đắt tiền và có chu kỳ mua sắm kéo dài.

Sự tự chủ còn thể hiện ở việc Ukraine phục hồi một số năng lực công nghiệp truyền thống. Tổng thống Volodymyr Zelensky cho biết sản lượng pháo tự hành Bohdana cỡ 155mm đã đạt khoảng 40 hệ thống mỗi tháng. Theo AP, Ukraine đã sản xuất khoảng 2,4 triệu quả đạn pháo và đạn cối trong năm 2025. Đây là bước tiến đáng kể đối với một quốc gia từng phụ thuộc nặng nề vào nguồn đạn 155mm từ Mỹ và châu Âu. Tuy nhiên, những con số do Kiev công bố khó được kiểm chứng độc lập đầy đủ trong điều kiện chiến tranh và không đồng nghĩa với việc Ukraine đã khắc phục hoàn toàn tình trạng thiếu đạn tại mọi khu vực mặt trận.

Cuộc chạy đua để làm chủ vũ khí tầm xa

“UAV hóa” chiến tranh và cuộc chạy đua làm chủ vũ khí tầm xa của Ukraine - 2

Binh sĩ Ukraine vận hành UAV tại vùng Donetsk (Ảnh: Reuters).

Trụ cột rõ rệt nhất trong chiến lược tự chủ của Ukraine là phát triển các hệ thống không người lái. UAV có chi phí thấp hơn nhiều so với tên lửa hành trình, máy bay chiến đấu hoặc đạn pháo dẫn đường, trong khi có thể đảm nhận nhiệm vụ trinh sát, hiệu chỉnh hỏa lực, tấn công bộ binh, phá hủy xe cơ giới, rải mìn, vận chuyển và đánh sâu vào hậu phương.

Lầu Năm Góc ước tính Ukraine có thể sản xuất từ 6-7 triệu UAV FPV tiến công trong năm 2026, tương đương 500.000 chiếc mỗi tháng. Một quan chức phụ trách chương trình UAV Dominance của Mỹ thừa nhận công nghiệp Mỹ cần nhiều năm mới có thể đạt quy mô sản xuất thời chiến tương tự. So sánh này cho thấy lợi thế của Ukraine về số lượng UAV giá rẻ, nhưng không nên diễn giải thành việc năng lực công nghiệp quốc phòng tổng thể của Ukraine đã vượt NATO, bởi Mỹ và các nước châu Âu vẫn chiếm ưu thế tuyệt đối ở máy bay chiến đấu, phòng không, tên lửa, vệ tinh, động cơ và nhiều công nghệ nền tảng.

Điều quan trọng hơn sản lượng là khả năng “tiến hóa” của sản phẩm. Khi Nga tăng cường gây nhiễu bằng vô tuyến, tác chiến điện tử, Ukraine nhanh chóng mở rộng UAV điều khiển bằng cáp quang. Khi các tuyến điều khiển bị phát hiện, nhà sản xuất đưa vào thuật toán tự động nhận dạng mục tiêu hoặc cho phép điều khiển từ xa qua mạng lưới trung gian. Khi Nga tăng lớp bảo vệ cho xe tăng và trận địa, các đơn vị Ukraine điều chỉnh đầu nổ, góc tiếp cận và phương thức phối hợp theo đàn.

Ngày 20/7, Ukraine công bố Firefly - bộ đạn dẫn đường chính xác dành cho các UAV ném bom hạng nặng. Hệ thống có khả năng tự điều chỉnh đường bay sau khi được thả, tiếp tục hoạt động trong môi trường tác chiến điện tử và được tuyên bố có thể đánh công sự từ độ cao tới khoảng 800m. Đây là ví dụ tiêu biểu về cách Kiev dùng thiết bị dẫn đường giá tương đối thấp để nâng hiệu quả của loại bom thông thường, thay vì chỉ dựa vào đạn chính xác đắt tiền nhập khẩu.

Ở cấp độ chiến dịch, Ukraine đã phát triển một danh mục ngày càng rộng các UAV và tên lửa tấn công tầm xa như Liutyi, FP-1, Peklo, Palianytsia, Ruta, Neptune cải tiến và Flamingo. Ukraine cho rằng một số UAV nội địa đã thực hiện nhiệm vụ ở khoảng cách hơn 1.700 km. Dù thông số và mức độ thiệt hại cụ thể thường không thể kiểm chứng độc lập, việc các cơ sở năng lượng, kho hậu cần và nhà máy sâu trong lãnh thổ Nga nhiều lần bị tập kích cho thấy Kiev đã hình thành năng lực đánh xa mà trước đây gần như chỉ có thể trông đợi từ vũ khí phương Tây.

Mục tiêu của Ukraine không chỉ là tạo thêm phương tiện tấn công. Vũ khí nội địa còn giúp Kiev giảm sự ràng buộc bởi những điều kiện sử dụng của nhà tài trợ. Trong nhiều giai đoạn, Mỹ và một số nước châu Âu hạn chế phạm vi sử dụng tên lửa do họ cung cấp nhằm tránh nguy cơ leo thang trực tiếp với Nga. Với UAV và tên lửa do mình phát triển, Ukraine có quyền chủ động lớn hơn trong lựa chọn mục tiêu và thời điểm tác chiến.

Tuy nhiên, khả năng tự chủ UAV của Ukraine vẫn còn giới hạn. Nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế Mỹ (CSIS) chỉ ra rằng chuỗi cung ứng UAV của cả Nga và Ukraine vẫn phụ thuộc đáng kể vào linh kiện Trung Quốc, từ động cơ điện, pin, camera, bộ điều khiển bay đến thiết bị truyền tín hiệu. Hội đồng Quan hệ Đối ngoại Mỹ nhận định, tỷ trọng linh kiện Trung Quốc trong UAV Ukraine đã giảm mạnh, từ mức gần như tuyệt đối thời kỳ đầu chiến tranh xuống khoảng 38% vào năm 2025, nhưng quá trình thay thế vẫn chưa hoàn thành. Đây vẫn là “điểm nghẽn chiến lược” nếu Bắc Kinh siết xuất khẩu hoặc chuỗi vận tải bị gián đoạn.

Ngoài ra, Ukraine còn đối mặt với việc Nga liên tục đánh phá các trung tâm công nghiệp. Ngày 30/7, Nga tuyên bố đã tập kích hàng loạt cơ sở liên quan đến việc sản xuất UAV, động cơ và tên lửa tại Kiev, Lviv, Ivano-Frankivsk và Kryvyi Rih. Tuy nhiên, những tuyên bố về mục tiêu, thiệt hại của Nga chưa được kiểm chứng. Truyền thông Nga đồng thời mô tả các cơ sở sản xuất UAV và tên lửa Ukraine là “mục tiêu quân sự ưu tiên”. Điều này buộc Kiev phân tán dây chuyền, giữ bí mật địa điểm, xây cơ sở ngầm và chuyển một phần sản xuất ra nước ngoài.

Tự chủ bằng liên kết

Nghịch lý lớn nhất của ngành công nghiệp quốc phòng Ukraine là có khả năng sản xuất nhưng thiếu tiền đặt hàng. Để giải quyết vấn đề này, Kiev thúc đẩy “Mô hình Đan Mạch”: các nước đối tác không nhất thiết chuyển vũ khí có sẵn trong kho, mà cấp tiền cho Ukraine đặt mua sản phẩm từ chính các nhà máy Ukraine.

Cách làm này tạo ra ba lợi ích, gồm (i) thời gian giao hàng thường ngắn hơn so với đặt mua một hệ thống mới từ các tập đoàn phương Tây; (ii) giá thành một số loại UAV, pháo, đạn dược của Ukraine thấp hơn đáng kể; (iii) dòng tiền giúp doanh nghiệp Ukraine mở rộng nhà máy, giữ nhân lực, tiếp tục nghiên cứu sản phẩm mới.

Ngày 30/6, Đan Mạch công bố gói hỗ trợ quân sự mới trị giá 4,4 tỷ krone (khoảng 672 triệu USD), trong đó 1,3 tỷ krone được dành cho cơ chế tài trợ trực tiếp việc Ukraine mua vũ khí từ công nghiệp trong nước. Hà Lan, Na Uy và một số đối tác khác cũng áp dụng hoặc tham gia những cơ chế tương tự.

Liên minh châu Âu đã mở rộng cách tiếp cận này lên quy mô lớn hơn. Ngày 14/7, EU và Ukraine thiết lập quan hệ đối tác công nghiệp quốc phòng, nhấn mạnh việc cùng sản xuất UAV và hệ thống chống UAV tại Ukraine và các nước thành viên. Cuối tháng 7, EU giải ngân 3,47 tỷ euro để hỗ trợ Ukraine mua UAV, tên lửa, phòng không và máy bay Gripen trong khuôn khổ gói cho vay 90 tỷ euro. Một phần nguồn trả nợ và hỗ trợ Ukraine được gắn với lợi nhuận phát sinh từ tài sản có chủ quyền của Nga bị phong tỏa, thay vì trực tiếp tịch thu toàn bộ phần tài sản gốc.

Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen thừa nhận EU có quy mô công nghiệp nhưng Ukraine sở hữu kinh nghiệm đã được kiểm nghiệm trực tiếp trên chiến trường. Nhận định này phản ánh sự bổ sung lẫn nhau: Ukraine có tốc độ đổi mới, dữ liệu tác chiến và sản phẩm giá thấp; châu Âu có vốn, nhà máy, tiêu chuẩn hóa và khả năng sản xuất công nghiệp quy mô lớn. Chương trình “Build with Ukraine” vì vậy không chỉ đưa các doanh nghiệp phương Tây vào Ukraine, mà còn đưa công nghệ Ukraine sang lãnh thổ đối tác.

Hồi tháng 2, nhà máy quân sự đầu tiên của Ukraine tại Anh bắt đầu hoạt động, sản xuất UAV của Ukrspecsystems trong khuôn khổ liên danh với các công ty Anh. Ukraine cũng mở rộng hợp tác sản xuất UAV tại Đức, Na Uy, Baltic và một số nước châu Âu khác. Việc đặt nhà máy ngoài lãnh thổ vừa giảm nguy cơ bị Nga tập kích, vừa giúp sản phẩm Ukraine tiếp cận tiêu chuẩn, chuỗi cung ứng và thị trường NATO.

Các tập đoàn lớn như Rheinmetall đã lập liên doanh sửa chữa phương tiện bọc thép và xúc tiến sản xuất đạn pháo tại Ukraine; BAE Systems, KNDS và nhiều doanh nghiệp châu Âu khác mở văn phòng, cơ sở bảo dưỡng, đàm phán dự án sản xuất. Ngay từ cuối năm 2024, Ukraine đã thành lập 5 liên doanh với các nhà sản xuất vũ khí phương Tây và tiếp tục đàm phán nhiều dự án mới.

Một công cụ khác là chế độ pháp lý đặc biệt có tên gọi "Thành phố Quốc phòng" - "Defence City", được Quốc hội Ukraine thông qua năm 2025 nhằm tạo ưu đãi thuế, hải quan, bảo mật thông tin, bảo vệ và di chuyển dây chuyền sản xuất. Ngày 24/7/2026, Bộ Quốc phòng Ukraine cho biết "Defence City" có 45 doanh nghiệp thành viên, với doanh thu đủ điều kiện từ sản xuất và bán vũ khí vượt 93,5 tỷ hryvnia. Cơ chế này được kỳ vọng khắc phục tình trạng thủ tục chồng chéo và tạo môi trường ổn định hơn cho doanh nghiệp tư nhân.

Ukraine đồng thời mở cửa có kiểm soát hoạt động xuất khẩu vũ khí. Truyền thông phương Tây tiết lộ Tổng thống Zelensky dự kiến thành lập 10 trung tâm xuất khẩu tại châu Âu trong năm 2026, trước hết hướng vào UAV, công nghệ chống gây nhiễu và những sản phẩm mà năng lực sản xuất vượt nhu cầu đặt hàng trong nước. Nguồn thu xuất khẩu sẽ được sử dụng để duy trì doanh nghiệp và tài trợ cho các loại vũ khí Ukraine vẫn còn thiếu, nhất là phòng không và tên lửa đánh chặn.

Tuy nhiên, xuất khẩu trong thời chiến là một bài toán nhạy cảm. Ukraine phải bảo đảm sản phẩm tốt nhất vẫn được ưu tiên cho quân đội; ngăn công nghệ rơi vào tay đối phương; kiểm soát tham nhũng và lợi ích nhóm; đồng thời tránh để doanh nghiệp chạy theo thị trường quốc tế trong khi chiến trường còn thiếu trang bị. Những tranh cãi về cải cách mua sắm quốc phòng và tính minh bạch trong phân bổ hợp đồng cho thấy tăng công suất chưa tự động tạo ra hiệu quả nếu cơ chế đặt hàng, kiểm nghiệm và thanh toán không theo kịp.

Nhìn chung, Ukraine đã tạo một mô hình công nghiệp quốc phòng thời chiến đặc biệt, bao gồm sản xuất phân tán nhưng được kết nối bằng nền tảng số; doanh nghiệp tư nhân đóng vai trò tiên phong; sản phẩm được cải tiến qua phản hồi trực tiếp từ mặt trận; vốn quốc tế được chuyển từ mua vũ khí bên ngoài sang đặt hàng trong nước; còn nhà máy được mở rộng vượt ra ngoài biên giới quốc gia.

Sự hỗ trợ không nhỏ của phương Tây 

Song nếu nói Ukraine tự chủ hoàn toàn về công nghiệp quốc phòng sẽ là quá sớm. Ukraine vẫn phụ thuộc lớn vào Mỹ/phương Tây về tên lửa Patriot, máy bay chiến đấu, radar cảnh giới tầm xa, tên lửa đánh chặn, vệ tinh, một số loại động cơ, điện tử và nguồn vốn. Ngày 30/7, Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết ông “chưa quyết định có cấp phép để Ukraine sản xuất tên lửa Patriot hay không”. Chi tiết đó cho thấy giới hạn hiện hữu, Kiev có thể sản xuất hàng triệu UAV, nhưng chưa thể tự mình xây dựng đầy đủ mọi tầng của một hệ thống quốc phòng hiện đại.

Điểm đáng chú ý nhất không phải Ukraine đã thay thế hoàn toàn viện trợ phương Tây, mà là nước này đang thay đổi bản chất của sự hỗ trợ. Thay vì chỉ yêu cầu “gửi thêm vũ khí”, Kiev muốn đối tác “đặt hàng tại Ukraine”, “sản xuất cùng Ukraine” và “đầu tư vào công nghệ Ukraine”. Đó là quá trình chuyển từ phụ thuộc thụ động sang phụ thuộc tương hỗ.

Nếu duy trì được nguồn vốn, bảo vệ chuỗi cung ứng, minh bạch hóa mua sắm và giảm lệ thuộc vào linh kiện bên ngoài, Ukraine có thể trở thành một trung tâm sản xuất UAV, robot, tác chiến điện tử và đạn dược quan trọng của châu Âu. Ngược lại, nếu viện trợ tài chính suy giảm mạnh, các cơ sở sản xuất tiếp tục bị phá hủy hoặc cải cách bị cản trở bởi lợi ích nhóm, công suất 55 tỷ USD sẽ chỉ tồn tại trên giấy.

Trong cuộc chiến tiêu hao hiện nay, số lượng nhà máy và sản lượng vũ khí không đơn thuần là chỉ số kinh tế; chúng sẽ quyết định khả năng một quốc gia tiếp tục chiến đấu khi kho dự trữ của đồng minh cạn dần và những cam kết chính trị trở nên khó đoán định. Chính trong hoàn cảnh đó, công nghiệp quốc phòng nội địa đã trở thành một trong những trụ cột sống còn nhất trong chiến lược của Ukraine.

Theo CSIS, K-Politika, Reuters