Cảnh chưa từng thấy ở cơ sở y tế phường của Hà Nội
(Dân trí) - Từng bị bỏ không vì thiếu nhân lực và thiết bị, cơ sở y tế tại phường Vĩnh Hưng giờ đây đông bệnh nhân từ sáng sớm.
Sau hơn nửa năm đi vào hoạt động, mô hình liên kết giữa Bệnh viện Đại học Y Hà Nội và Trạm Y tế phường Vĩnh Hưng đang cho thấy là một lời giải hiệu quả cho vấn đề "người dân quay lưng với y tế cơ sở" suốt nhiều thập kỷ qua.
Trong cấu trúc của hệ thống y tế Việt Nam, trạm y tế xã, phường vốn được coi là "xương sống", là tuyến đầu trong việc chăm sóc sức khỏe người dân.
Thế nhưng, thực tế lại tồn tại một nghịch lý: Nhiều cơ sở được xây dựng khang trang nhưng lại rơi vào cảnh vắng lặng, trong khi bệnh viện tuyến trên luôn trong tình trạng quá tải.
Tại phường Vĩnh Hưng (Hà Nội), câu chuyện này từng là vấn đề hiện hữu.
Một cơ sở y tế trong khuôn viên hơn 4.000m2, tọa lạc tại vị trí đắc địa, đã được đầu tư xây dựng nhưng lại khó đi vào hoạt động. Lý do là thiếu con người vận hành và trang thiết bị đủ mạnh để tạo niềm tin.
TS.BS Trần Khánh Chi - Phó trưởng Phòng khám Vĩnh Hưng, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội đồng thời là Phó trưởng bộ môn Hóa sinh, trường Đại học Y Hà Nội - là người chứng kiến trọn vẹn sự "hồi sinh" của nơi này.

Bệnh nhân tại phòng khám từ đầu giờ sáng đã tấp nập.
“Khi Bệnh viện Đại học Y Hà Nội tiếp quản, chúng tôi xác định phải mang cả hệ thống máy móc hiện đại và nhân sự tinh nhuệ nhất về đây để hồi sinh cơ sở này.
Tuy nhiên, mang máy móc gì về, bố trí nhân sự như thế nào, đâu sẽ là mũi nhọn của cơ sở này để thực sự điền vào "khoảng trắng" giữa trạm y tế truyền thống và các bệnh viện là điều cần tính toán cân nhắc kỹ lưỡng”, TS Chi chia sẻ.
Mô hình khám chữa bệnh mới ở tuyến phường

Bệnh nhân đến khu vực tiếp đón tại phòng khám.
Khoảng 8h, khu vực tiếp đón của Phòng khám Đa khoa Vĩnh Hưng đã bắt đầu nhộn nhịp.
Dấu vết của một cơ sở từng bị bỏ không nhiều năm không còn. Thay vào đó là một không gian y tế được tổ chức theo mô hình liên hoàn, từ tiếp đón, khám lâm sàng, xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh đến điều trị và phục hồi chức năng.
Theo PGS.TS Trần Quốc Hòa - Trưởng phòng khám Đa khoa Bệnh viện Đại học y Hà Nội cơ sở Vĩnh Hưng, Bệnh viện đã triển khai các kỹ thuật từ đơn giản đến phức tạp ở cơ sở này.
“Ở cơ sở Tôn Thất Tùng có các phòng khám chuyên khoa lĩnh vực gì thì ở đây cũng sẽ có như vậy, với đầy đủ các yếu tố chuyên môn”, PGS Hòa chia sẻ.
Hiện mỗi ngày cơ sở này tiếp nhận 80 bệnh nhân đến thăm khám. Theo chuyên gia, đây là một tín hiệu tích cực với một phòng khám non trẻ đặt tại cơ sở y tế phường.
Ngay tại khu vực tiếp đón, người bệnh có thể đăng ký bằng căn cước công dân gắn chip hoặc mã đặt lịch trên điện thoại. Thông tin được truy xuất trực tiếp trên hệ thống bệnh án điện tử, sau đó chuyển đến từng phòng chuyên môn.


Toàn bộ phòng khám sử dụng chung phần mềm quản lý HIS với cơ sở chính của Bệnh viện Đại học Y Hà Nội tại phố Tôn Thất Tùng. Điều này đồng nghĩa người bệnh chỉ có một hồ sơ xuyên suốt, bất kể khám ở cơ sở nào. Bác sĩ tại Vĩnh Hưng có thể xem lại tiền sử, kết quả xét nghiệm, đơn thuốc và các lần chẩn đoán hình ảnh trước đó để tránh chỉ định trùng lặp.
Từ khu vực tiếp đón, hành lang dẫn đến các phòng khám Nội, Ngoại, Nhi, Tai Mũi Họng, Mắt, Răng Hàm Mặt, Sản phụ khoa và các phòng khám chuyên sâu. Không gian không quá lớn như một bệnh viện tuyến trên, song được bố trí đủ để xử lý phần lớn nhu cầu khám ban đầu, theo dõi bệnh mạn tính và sàng lọc những trường hợp cần chuyển tuyến.
Một trong những khu vực được đầu tư đáng kể là chẩn đoán hình ảnh. Phòng khám được trang bị hệ thống CT Scanner 32 dãy, cho phép chụp sọ não, ngực, ổ bụng và nhiều vùng cơ thể ngay tại chỗ.
Đây là thiết bị hiếm gặp tại một cơ sở y tế tuyến phường, bởi không chỉ đòi hỏi chi phí đầu tư lớn mà còn cần đội ngũ kỹ thuật viên, bác sĩ chẩn đoán hình ảnh và quy trình kiểm soát an toàn bức xạ chặt chẽ.
Theo TS.BS Trần Khánh Chi, việc đặt máy CT tại đây không nhằm biến phòng khám thành một bệnh viện tuyến cuối thu nhỏ. Thiết bị này được lựa chọn để giải quyết những tình huống cần sàng lọc nhanh, giúp bác sĩ xác định bệnh nhân có thể tiếp tục theo dõi tại chỗ hay phải chuyển đến cơ sở chuyên sâu.


Bên cạnh CT là hệ thống X-quang kỹ thuật số và các phòng siêu âm. Một số hình ảnh siêu âm có thể được truyền trực tiếp về cơ sở Tôn Thất Tùng thông qua hệ thống hội chẩn từ xa.
Khi gặp trường hợp khó, bác sĩ tại Vĩnh Hưng có thể kết nối với chuyên gia của Bệnh viện Đại học Y Hà Nội để cùng đọc hình ảnh và thống nhất hướng xử trí.
"Trong trường hợp bệnh nhân đến khám cấp cứu, cơ sở sẽ xử lý ban đầu, tiến hành phân loại và có xe cấp cứu cùng nhân viên hỗ trợ đưa về cơ sở 1 hoặc 2 của Bệnh viện", TS Chi phân tích.
Khu xét nghiệm được tổ chức gần như một phòng xét nghiệm thu nhỏ của bệnh viện. Các mẫu máu sau khi lấy được đưa trực tiếp vào hệ thống hóa sinh và miễn dịch tự động. Phòng khám đồng thời có máy xét nghiệm đông máu, máu lắng và các thiết bị phục vụ xét nghiệm huyết học.

Phòng khám có hệ thống xét nghiệm hiện đại.
Các hệ thống máy được lựa chọn theo yêu cầu về độ chính xác, khả năng kiểm soát chất lượng và tốc độ trả kết quả.
Năng lực xét nghiệm không chỉ phục vụ những chỉ số cơ bản như đường huyết, chức năng gan, thận hay mỡ máu mà còn đáp ứng nhiều xét nghiệm chuyên sâu hơn, tùy theo chỉ định của bác sĩ.
Việc tổ chức xét nghiệm ngay tại chỗ giúp phòng khám hoàn thiện một quy trình khép kín. Người bệnh sau khi khám lâm sàng có thể lấy mẫu, chụp chiếu và quay lại phòng bác sĩ trong cùng một buổi, thay vì phải mang giấy chỉ định sang một cơ sở khác rồi quay về.
Theo TS Chi, một trong những yêu cầu quan trọng khi xây dựng phòng khám là chất lượng xét nghiệm tại Vĩnh Hưng phải tương đương với cơ sở chính. Các máy đều được kiểm chuẩn, nội kiểm và ngoại kiểm định kỳ. Kết quả được trả trên cùng hệ thống, giúp bác sĩ các cơ sở có thể sử dụng dữ liệu thống nhất khi theo dõi người bệnh.

Đằng sau dãy máy tự động là một bài toán đầu tư. Thay vì mua toàn bộ thiết bị với chi phí lớn, một số hệ thống được triển khai theo mô hình đặt máy. Đơn vị cung cấp đưa thiết bị vào vận hành, trong khi bệnh viện tổ chức nhân lực, quy trình chuyên môn và sử dụng hóa chất theo số lượng thực tế.
“Với uy tín của mình, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội là cơ sở để các nhà cung cấp tin tưởng đặt các thiết bị hiện đại sử dụng cho bệnh nhân ngay tại các phòng khám ban đầu, đây là một điều rất khó thực hiện đối với các trạm y tế”, TS Chi chia sẻ.
Cách làm này giúp giảm áp lực đầu tư ban đầu, đồng thời bảo đảm thiết bị được bảo trì và nâng cấp thường xuyên. Tuy nhiên, theo TS Chi, yếu tố quyết định vẫn là con người. Một máy xét nghiệm hiện đại không thể tự tạo ra kết quả đáng tin cậy nếu thiếu kỹ thuật viên được đào tạo, quy trình kiểm soát chất lượng và bác sĩ đủ năng lực phân tích kết quả trong bối cảnh lâm sàng.
Vá khoảng trống trạm y tế - bệnh viện tuyến trên
Theo PGS.TS Trần Quốc Hòa, một trong những nguyên nhân khiến các bệnh viện tuyến trên luôn quá tải là do người dân còn ngần ngại vào năng lực chuyên môn của y tế cơ sở, dẫn đến việc "hắt hơi sổ mũi" cũng phải đổ xô lên tuyến trên.
Sự ra đời của mô hình liên thông này đã trực tiếp "mổ xẻ" và giải quyết nút thắt đó.

Bà H. không còn cảnh mất cả sáng chỉ để xếp hàng chờ khám.
Bà N.T.H. (62 tuổi), trú tại khu đô thị Gamuda có tiền sử mỡ máu cao. Suốt nhiều năm qua, bà phải lặn lội lên Bệnh viện Đại học Y Hà Nội cơ sở Tôn Thất Tùng, cách nhà hơn 10km, để kiểm tra định kỳ.
“Trước đây đi khám ở cơ sở chính, tôi thường phải chờ đến 10-11h mới có kết quả. Nay ra đây, chỉ 9h là mọi thứ đã xong xuôi, nhanh hơn được 1-2 tiếng mà không phải chịu cảnh chen chúc”, bà H. hồ hởi chia sẻ.
PGS Hòa cho biết, các giáo sư, tiến sĩ, bác sĩ sẽ được luân phiên từ cơ sở Tôn Thất Tùng về cơ sở Vĩnh Hưng, để đảm bảo bệnh nhân được tiếp cận với đội ngũ trình độ chuyên môn cao, đảm bảo sự công bằng giữa các cơ sở trong Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.
Ước tính có khoảng 50 y bác sĩ, nhân viên y tế phục vụ công tác vận hành phòng khám hàng ngày, ngoài ra còn có nhân sự hỗ trợ chuyên môn từ xa từ cơ sở chính.
Các mặt bệnh về tiêu hóa vốn luôn trong tình trạng quá tải tại bệnh viện tuyến trên. Nay, người dân đã có thể thực hiện nội soi dạ dày, đại tràng có gây mê và nhận kết quả ngay trong ngày tại Vĩnh Hưng.

Bệnh nhân được nội soi ngay tại phòng khám.
Việc "đưa nội soi về gần dân" không chỉ giảm tải cho tuyến trên mà còn giúp người dân chủ động tầm soát bệnh lý sớm mà không còn tâm lý "ngại đi viện".
Khoa Phục hồi chức năng và Y học cổ truyền tại đây cũng là một minh chứng về sự bù đắp cho khoảng trống giữa những mô hình truyền thống. Thông thường, những bệnh nhân sau phẫu thuật cần tập luyện hàng ngày, nhưng việc di chuyển quãng đường xa đến bệnh viện lớn là một trở ngại lớn.
Tại thời điểm phóng viên ghi nhận, ThS.BSNT Đinh Phương Huệ (Phục hồi chức năng) đang trực tiếp hướng dẫn cho bệnh nhân P.M. (18 tuổi) - một cầu thủ bóng đá phong trào bị đứt dây chằng chéo.


“Bạn M. đã mổ được 4 tuần nhưng gối vẫn còn hạn chế vận động. Nếu hàng ngày M. phải tự đi xe máy hoặc nhờ người nhà đưa lên tận trung tâm để tập thì rất vất vả.
Nay chỉ mất 5 phút di chuyển từ phố Lĩnh Nam qua đây, bạn có thể tự đi xe máy và được tập luyện với bác sĩ nội trú 3 buổi một tuần”, BS Huệ cho biết.
Bên cạnh đó, BSCKII Triệu Thị Linh (Y học cổ truyền) cũng nhấn mạnh vai trò của việc điều trị sớm tại cộng đồng bằng các phương pháp không dùng thuốc như điện châm, xoa bóp bấm huyệt hay thủy châm cho các bệnh lý mạn tính như đau cổ vai gáy, mất ngủ.
Việc kết hợp giữa Phục hồi chức năng và Y học cổ truyền ngay tại tuyến phường giúp bệnh nhân không phải đi lại giữa nhiều khoa, nhiều cơ sở.
"Trường học" sàng lọc bệnh cho nhân lực y tế
Trước đó, TS.BS Nguyễn Trọng Diện, Giám đốc Sở Y tế Hà Nội đánh giá đây là một sự “đỡ đầu toàn diện”. Bệnh viện Đại học Y Hà Nội không chỉ đưa máy móc, con người về khám bệnh mà còn đồng hành cùng Trạm y tế phường trong các nhiệm vụ cốt lõi: tiêm chủng, quản lý bệnh không lây nhiễm và truyền thông sức khỏe.
Tính ưu việt của mô hình còn nằm ở hệ thống công nghệ thông tin liên thông (HIS/LIS). Mọi kết quả khám bệnh tại cơ sở Vĩnh Hưng sẽ được nhập vào hồ sơ sức khỏe điện tử, đồng bộ hoàn toàn với cơ sở chính.


Những dữ liệu này sau đó được chuyển giao cho trạm y tế phường quản lý để theo dõi sức khỏe người dân xuyên suốt vòng đời. Điều này tạo ra một chu trình khép kín: từ phòng bệnh, phát hiện sớm đến điều trị chuyên sâu và chăm sóc sau điều trị ngay tại cộng đồng.
Trong thực tế vận hành, theo PGS Hòa, Bệnh viện đã bố trí bác sĩ chuyên khoa Nhi và kíp cấp cứu gây mê trực sẵn ở phòng khám.
Khi các cháu đến tiêm chủng tại trạm y tế phường ngay bên cạnh, nếu có bất kỳ vấn đề phát sinh, lực lượng từ phòng khám sẽ hỗ trợ xử trí kịp thời với hệ thống phòng cấp cứu lưu hiện đại. Điều mà trước đây, nếu chỉ để trạm y tế đơn thuần thì rất khó thực hiện.
Từ khi đi vào hoạt động, Phòng khám cũng đã hỗ trợ UBND phường và Trạm Y tế phường Vĩnh Hưng thực hiện 4 đợt khám thiện nguyện cho nhiều đối tượng chính sách của phương như người có công với cách mạng, thân nhân gia đình có công với cách mạng, người có hoàn cảnh khó khăn.
Bên cạnh đó, phòng khám cũng tham gia vào công tác khám sức khỏe toàn dân miễn phí theo chính sách mới của thành phố cho người dân trên địa bàn.

Chỉ cần quét mã vạch, bác sĩ có thể nắm được bệnh án, thông tin của bệnh nhân.
Một điểm mang tính đột phá của mô hình này chính là việc đưa các bác sĩ gia đình về y tế cơ sở.
PGS Hòa phân tích sâu về giá trị đào tạo: “Ở bệnh viện tuyến cuối, các bác sĩ thường tiếp nhận bệnh nhân khi bệnh lý đã rõ ràng hoặc ở giai đoạn nặng. Nhưng tại cơ sở này, các bạn được rèn luyện kỹ năng sàng lọc và phân loại bệnh nhân ban đầu”.

Mô hình mang lại giá trị đào tạo cao cho đội ngũ y tế.
Việc rèn luyện kỹ năng này có ý nghĩa quan trọng đối với hệ thống y tế. Khi bác sĩ tại cơ sở phân loại đúng bệnh nhân nào cần điều trị ngoại trú, bệnh nhân nào cần chuyển chuyên khoa sâu, hiệu quả điều trị sẽ được nâng cao rõ rệt, đồng thời tránh lãng phí thời gian và tiền bạc cho người dân khi phải "vòng vèo" qua nhiều cấp bậc không cần thiết.
Đây chính là quá trình rèn luyện năng lực chuyên môn toàn diện cho đội ngũ thầy thuốc tương lai.










