Nước mắt giữa trận địa và nỗi lo pháo dội bung mộ đồng đội
(Dân trí) - "Mộ của Quế chỉ đắp cao hơn mặt đất 40cm, chúng tôi đánh dấu bằng một tảng đá. Không nói ra nhưng tôi lo chỉ ngày hôm sau thôi pháo địch từ biển bắn vào đào tung mộ Quế lên...”, ông Hùng nghẹn lại kể.
Nước mắt người lính 2 lần an táng đồng đội
“Hôm nay, sau 54 năm, Quế đã về yên nghỉ bên các đồng đội tại nghĩa trang liệt sĩ Nam Đàn. Chúng tôi lần thứ 2 làm lễ mai táng Quế. Thắp nén tâm nhang lên bàn thờ đặt hài cốt của Quế hôm nay có Dũng, Xuân, Định, An, Anh. Khóc lần thứ 2 nhưng còn đâu nước mắt nữa...”, những lời tự sự trên trang cá nhân của cựu chiến binh Hồ Việt Hùng (xã Kim Liên, Nghệ An) khiến người đọc rơi nước mắt.
Dòng chữ thôi thúc chúng tôi tìm gặp ông - người lính đã trải qua những năm tháng chiến đấu trên chiến trường Quảng Trị khốc liệt hơn 50 năm về trước.

Cựu chiến binh Hồ Việt Hùng (Ảnh: Hoàng Lam).
Tháng 8/1971, chàng trai Hồ Việt Hùng (SN 1953) lên đường nhập ngũ, khi vừa cầm trên tay giấy báo trúng tuyển vào khoa Triết, Trường đại học Tổng hợp.
Sau thời gian huấn luyện ở miền Bắc, 93 người lính trẻ thuộc Đại đội 3, Tiểu đoàn 42, Tỉnh đội Nghệ An hành quân vào chiến trường, bổ sung cho Đại đội 3, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 27, Mặt trận B5, chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị.
Tháng 2/1972, đơn vị vượt sông Bến Hải vào giữ chốt ở thôn An Lộng, xã Triệu Hòa, huyện Triệu Phong (cũ), tỉnh Quảng Trị. Trong thế “cài răng lược”, Trung đoàn 27 thường xuyên chiến đấu, đẩy lùi từng cuộc chiến giành đất, lấn dân của địch.
Suốt những ngày đêm chiến đấu trên chốt, 2 người lính đồng hương Hồ Việt Hùng và Nguyễn Hữu Quế (SN 1952, quê thị trấn Nam Đàn, huyện Nam Đàn, Nghệ An) luôn sát cánh cùng nhau.
Đêm 23/8/1972, địch dùng máy bay, xe tăng, pháo binh dọn đường cho một đại đội bộ binh tấn công vào chốt thôn An Lộng. Sau hơn 1 giờ chiến đấu, tiểu đội do Tiểu đội trưởng Hồ Việt Hùng chỉ huy đã đánh bật địch ra khỏi chốt, làm chủ trận địa. Tiểu đội trưởng Hùng với vết thương ở chân, bò lên chốt tiền tiêu để kiểm tra tình hình và bàng hoàng phát hiện người đồng đội thân thiết Nguyễn Hữu Quế đã hy sinh.

Lễ truy điệu, an táng hài cốt liệt sĩ Nguyễn Hữu Quế (Ảnh: Hồng Sương).
Không thể đưa về tuyến sau, anh cùng 3 đồng đội quyết định an táng liệt sĩ Nguyễn Hữu Quế. Khâm lượm, đưa thi thể đầy vết thương của đồng đội vào áo tử sĩ, nước mắt người lính ứa ra...
“Đêm đó là 16/7 âm lịch, trăng rất sáng, trận chiến đã ngừng nhưng pháo sáng của địch vẫn dội từ biển vào. Chúng tôi đào huyệt, an táng Quế. Tôi cắt một miếng sắt từ thùng đựng đạn K56, dùng tống chốt khẩu AK khắc tên, tuổi, quê quán của Quế rồi đặt vào áo tử sĩ. Mộ của Quế chỉ đắp cao hơn mặt đất tầm 40cm, chúng tôi đánh dấu bằng một tảng đá. Không nói ra nhưng tôi lo chỉ ngày hôm sau thôi pháo địch từ biển bắn vào đào tung mộ Quế lên...”, ông Hùng nghẹn lại kể.
Ngày 16/2/1973, người lính Hồ Việt Hùng có quyết định ra Bắc đào tạo sĩ quan. Những thông tin về sự hy sinh, vị trí an táng liệt sĩ Nguyễn Hữu Quế cũng được anh cung cấp cho người thân.
Ông Nguyễn Hữu Sơn (SN 1964, xã Vạn An, Nghệ An), em trai của liệt sĩ Quế chia sẻ sau nhiều năm tìm kiếm, đến năm 2008, gia đình mới tìm thấy phần mộ liệt sĩ Nguyễn Hữu Quế tại Nghĩa trang liệt sĩ xã Hải Trường. Theo thông tin từ Ban quản lý nghĩa trang, sau chiến tranh, hài cốt liệt sĩ Nguyễn Hữu Quế được quy tập về đây với đầy đủ thông tin trên bia mộ theo thông tin mảnh sắt phát hiện cùng hài cốt.

Ông Nguyễn Hữu Sơn, em trai liệt sĩ Nguyễn Hữu Quế (Ảnh: Hoàng Lam).
Do nhiều lí do, đến ngày 27/7, gia đình mới có thể vào cất bốc, đưa hài cốt liệt sĩ Nguyễn Hữu Quế trở về quê. “Mẹ tôi qua đời năm 2000, đến khi nhắm mắt vẫn đau đáu vì hài cốt con trai cả chưa được tìm thấy. Năm 2011, bố tôi cũng qua đời. Trước khi đi, ông chỉ nói “tìm được mộ anh Quế là tốt rồi, khi nào có điều kiện thì đưa anh về”. Giờ chúng tôi đã đón được anh về với bố mẹ, với quê hương”, ông Sơn xúc động chia sẻ.
Trong ngày đón liệt sĩ Nguyễn Hữu Quế trở về có ông Hùng và 5 người đồng đội cùng huyện Nam Đàn trước kia. Những người lính cùng ra trận năm xưa nay đã già, cơ thể mang vết thương chiến tranh, đã đứng lặng rất lâu trước hài cốt đồng đội, nước mắt chảy ngược vào trong...
Cuộc chiến sau lễ ký kết Hiệp định Paris
“Chúng tôi ngày ấy vào mặt trận có 93 người nhưng chỉ có 25 người còn trở về, không một ai lành lặn”, cựu chiến binh Hồ Việt Hùng chia sẻ.

Ông Hùng kể về những ngày tháng chiến đấu trên chiến trường Quảng Trị (Ảnh: Hoàng Lam).
Ông vẫn nhớ như in những năm tháng chiến đấu nơi chiến trường ác liệt ở Quảng Trị năm xưa. Ba lần ông bị thương, rút về bên này sông Bến Hải, vết thương ổn định lại vượt sông vào bám trận địa. Đến giờ, trong cơ thể ông vẫn còn 4 mảnh đạn, trong đó có mảnh đạn “lạc” vào phổi, mỗi khi trái gió trở trời lại đau nhức đến ngạt thở.
Chiến trường không chỉ có tiếng súng mà là nơi thử thách sức chịu đựng phi thường của người lính. Đó là những ngày tưởng như quắt lại dưới hơi nóng bom đạn và mùa hè đỏ lửa hay những ngày dài ngâm mình trong nước bùn ngập đến tận cằm, khi rút khỏi vị trí cảm giác như thịt da bong ra từng mảng... Bom đạn, thiếu thốn và hy sinh không thể ngăn bước chân người lính tiến về phía hòa bình.
Ngày cuối cùng trước khi Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam có hiệu lực, những trận đánh dữ dội của bom đạn và cuộc chiến cắm cờ giành đất, giành dân vẫn diễn ra trên “mảnh đất máu” này.

Cựu chiến binh Hồ Việt Hùng chia sẻ cùng phóng viên Dân trí (Ảnh: Vĩnh Khang).
“Sáng 28/1/1973, Hiệp định Paris chính thức có hiệu lực, lính 2 bên góp từng mảnh tôn, tấm gỗ, chiếc ghế để làm nhà hòa hợp. Thế nhưng bọn sĩ quan địch vẫn ngấm ngầm thực hiện các cuộc tâm lý chiến nhằm gây hoài nghi về tính chất của cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, thống nhất đất nước của ta. Chúng tôi bước vào trận chiến mới để bảo vệ cuộc chiến chính nghĩa, bảo vệ thành quả của Hiệp định Paris”, người lính Hồ Việt Hùng hồi tưởng.
Đầu tháng 2/1973, trước yêu cầu của tình hình mới, người lính Hồ Việt Hùng được lệnh ra Bắc học sỹ quan rồi làm công tác giảng dạy trong Trường Sĩ quan lục quân, Học viện chính trị quân sự. Năm 1984, do hoàn cảnh gia đình, ông xin về Nghệ An, công tác trong ngành giáo dục cho đến khi về hưu.












