Cơ chế ứng phó khủng hoảng từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp
(Dân trí) - Luật Việc làm 2025 lần đầu bổ sung cơ chế cho phép giảm mức đóng bảo hiểm thất nghiệp hoặc hỗ trợ bằng tiền trong trường hợp khủng hoảng, suy thoái kinh tế, thiên tai, dịch bệnh.
Từ ngày 1/1, chính sách bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) sẽ có thêm một công cụ ứng phó với các biến động lớn của nền kinh tế và thị trường lao động. Đây là một trong những điểm mới được bổ sung tại Luật Việc làm 2025, nhằm tăng tính linh hoạt của chính sách trong những tình huống đặc biệt.
Theo quy định tại Điều 30 Luật Việc làm 2025, ngoài các chế độ bảo hiểm thất nghiệp dành cho người lao động và người sử dụng lao động, luật đã bổ sung cơ chế để Chính phủ có thể quyết định các biện pháp hỗ trợ trong trường hợp xảy ra khủng hoảng, suy thoái kinh tế, thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh nguy hiểm.
Lần đầu luật hóa cơ chế hỗ trợ trong tình huống đặc biệt
Khoản 2 Điều 30 Luật Việc làm 2025 quy định: trong trường hợp khủng hoảng, suy thoái kinh tế, thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh nguy hiểm, căn cứ tình hình thực tế và kết dư Quỹ BHTN, Chính phủ được quy định việc giảm mức đóng BHTN, hỗ trợ bằng tiền hoặc hỗ trợ khác.
So với Luật Việc làm 2013, đây là nội dung hoàn toàn mới. Luật hiện hành chỉ quy định các chế độ cơ bản của BHTN gồm trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề và tư vấn, giới thiệu việc làm; chưa có quy định riêng về cơ chế hỗ trợ trong các tình huống khẩn cấp hoặc biến động lớn của nền kinh tế.
Việc bổ sung quy định này tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước có thể chủ động sử dụng nguồn lực từ Quỹ BHTN nhằm hỗ trợ người lao động và doanh nghiệp khi thị trường lao động chịu tác động mạnh từ các yếu tố bất thường.
Luật không quy định sẵn mức giảm đóng hay mức hỗ trợ cụ thể. Thay vào đó, Chính phủ sẽ căn cứ tình hình thực tế của từng giai đoạn, khả năng cân đối của Quỹ BHTN và mức độ ảnh hưởng của các sự kiện phát sinh để quyết định các giải pháp phù hợp.

Lần đầu luật hóa cơ chế hỗ trợ trong tình huống đặc biệt (Ảnh: Nguyễn Hằng).
Mức đóng BHTN được thiết kế linh hoạt hơn
Cùng với cơ chế hỗ trợ trong trường hợp đặc biệt, Luật Việc làm 2025 cũng thay đổi cách quy định mức đóng BHTN.
Nếu như trước đây người lao động và người sử dụng lao động được quy định đóng cố định bằng 1% tiền lương hoặc quỹ tiền lương làm căn cứ đóng, thì luật mới quy định theo hướng mức đóng tối đa bằng 1%.
Theo đó, người lao động đóng tối đa bằng 1% tiền lương tháng; người sử dụng lao động đóng tối đa bằng 1% quỹ tiền lương tháng của những người lao động đang tham gia BHTN. Nhà nước hỗ trợ tối đa bằng 1% quỹ tiền lương tháng đóng BHTN của người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
Việc chuyển từ quy định mức đóng cố định sang mức đóng tối đa được đánh giá là tạo dư địa để Chính phủ điều chỉnh linh hoạt hơn trong những giai đoạn thị trường lao động gặp khó khăn hoặc khi Quỹ BHTN có kết dư lớn.
Quy định này nhằm tăng tính chủ động trong điều hành chính sách, đặc biệt đối với các tình huống như thiên tai, dịch bệnh, khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế.

Người lao động đóng tối đa bằng 1% tiền lương tháng (Ảnh: CTV).
Tăng vai trò phòng ngừa thất nghiệp
Một điểm đáng chú ý khác là Luật Việc làm 2025 tiếp tục mở rộng các chính sách sử dụng Quỹ BHTN theo hướng phòng ngừa thất nghiệp thay vì chỉ hỗ trợ sau khi người lao động mất việc.
Theo Điều 30 của luật, các chế độ BHTN gồm tư vấn, giới thiệu việc làm; hỗ trợ người lao động tham gia đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề; trợ cấp thất nghiệp; và hỗ trợ người sử dụng lao động đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động.
Đối với doanh nghiệp gặp khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh nguy hiểm hoặc phải di dời, thu hẹp địa điểm sản xuất kinh doanh theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Luật Việc làm 2025 cũng bổ sung quy định hỗ trợ đào tạo lao động nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định.
Những thay đổi này cho thấy chính sách BHTN đang được thiết kế theo hướng không chỉ hỗ trợ người lao động khi đã thất nghiệp mà còn góp phần duy trì việc làm, hạn chế nguy cơ mất việc và tăng khả năng thích ứng của thị trường lao động trước các biến động lớn của nền kinh tế.





