Kỹ sư Việt tham gia tập đoàn bán dẫn toàn cầu, đóng góp hàng trăm triệu USD
(Dân trí) - TPHCM cần trở thành “cứ điểm” của dòng vốn FDI chất lượng cao, nơi các tập đoàn toàn cầu mở rộng đầu tư và chuyển giao công nghệ, kết nối doanh nghiệp Việt vào chuỗi giá trị.
Chưa tới 3 năm kể từ khi Tập đoàn công nghệ Marvell thành lập chi nhánh ở Việt Nam, kỹ sư Việt Nam đã trực tiếp tham gia các dự án công nghệ mới như chip điều khiển lưu trữ dữ liệu và chip kết nối tốc độ cao trong các trung tâm dữ liệu trí tuệ nhân tạo (AI)… TS Lê Quang Đạm, Tổng Giám đốc Marvell Technology Việt Nam, cho hay đây là những thành phần quan trọng giúp các bộ vi xử lý của NVIDIA có thể vận hành, bảo đảm việc chuyển đổi và truyền tải dữ liệu giữa các chip, trung tâm dữ liệu và trên phạm vi toàn cầu.
Nâng tầm năng lực qua dòng vốn ngoại
Marvell Việt Nam hiện là trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) lớn thứ ba của tập đoàn trên toàn cầu, chỉ sau Mỹ và Ấn Độ, vượt qua cả các chi nhánh kỳ cựu tại Israel, Canada hay Singapore. Năm 2025, tập đoàn này đạt doanh thu gần 8,2 tỷ USD với tổng nhân sự khoảng 8.000 người. Tính trung bình, mỗi nhân viên đóng góp khoảng 1 triệu USD. Như vậy, với quy mô hơn 600 kỹ sư hiện tại, văn phòng Việt Nam đóng góp khoảng 600 triệu USD vào tổng doanh thu của tập đoàn mẹ. Đây là một con số không nhỏ.
Câu chuyện của những kỹ sư Việt ở Marvell Technology Việt Nam không còn là ngoại lệ, mà đang ngày càng được nhân rộng từ sự lan tỏa của dòng vốn FDI chảy vào TPHCM nói riêng và cả nước.

Các kỹ sư người Việt làm việc tại Marvell Việt Nam (Ảnh: Lê Tỉnh).
“Marvell có những công nghệ và sản phẩm giúp kết nối điện và quang học với tốc độ cao nhất, độ trễ thấp nhất và tiết kiệm năng lượng nhất. Những dự án như vậy không phải kỹ sư nào trên thế giới cũng có thể làm được, nhưng ở Việt Nam, chúng tôi đã được trao cơ hội”, ông Đạm nói.
Theo TS Lê Quang Đạm, dù Việt Nam còn khá khiêm tốn trên bản đồ bán dẫn thế giới nếu so với Ấn Độ hay Trung Quốc, nhưng trong khu vực Đông Nam Á, vị thế đang dần được cải thiện và được nhiều tập đoàn thiết kế vi mạch lớn đánh giá là điểm đến tiềm năng. Việt Nam có ba lợi thế đáng chú ý, trong đó nổi bật là nguồn nhân lực trẻ, với học sinh, sinh viên yêu thích các lĩnh vực STEM và quan tâm nhiều đến công nghệ cao, AI, vi mạch bán dẫn...
Là một trong những kỳ lân công nghệ của Việt Nam, Tập đoàn VNG đang theo đuổi chiến lược AI có chủ quyền trong dài hạn, tập trung xây dựng hạ tầng AI tại Việt Nam. Từ đó, góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu và nuôi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao. AI cũng được đẩy mạnh ứng dụng trên toàn hệ sinh thái, đặc biệt ở các nền tảng có lượng người dùng lớn.
Thu hút FDI không còn là câu chuyện của quy mô vốn. Với TPHCM, vấn đề quan trọng hơn là làm sao để dòng vốn nước ngoài tạo ra giá trị lớn hơn cho nền kinh tế, giúp doanh nghiệp trong nước nâng năng lực và từng bước tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Bởi thực tế thời gian qua, dù đã có nhiều chính sách liên kết giữa khu vực doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa, nhưng bức tranh là chưa như kỳ vọng.
Trao đổi với phóng viên Dân trí, ông Đỗ Phước Tống, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty Cơ khí Duy Khanh, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp cơ khí - điện TPHCM, nói rằng thực tế doanh nghiệp Việt tham gia vào chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI vẫn còn hạn chế. Bên cạnh điểm yếu nội tại của doanh nghiệp Việt, còn có yếu tố là khi các tập đoàn FDI lớn vào Việt Nam, họ thường kéo theo hàng loạt doanh nghiệp FDI nhỏ để phục vụ chuỗi cung ứng của mình. Doanh nghiệp Việt phải cạnh tranh trực tiếp với những doanh nghiệp này.
Trước đây, khi những tập đoàn như Intel, Samsung hay các doanh nghiệp lớn khác vào Việt Nam, TPHCM từng có nhiều chính sách khuyến khích để tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, những cam kết đó vẫn còn chung chung, chưa có nội dung cụ thể.
Thực tế, các doanh nghiệp FDI vừa và nhỏ khi sang Việt Nam sản xuất, tham gia vào chuỗi cung ứng của những tập đoàn lớn cũng được tính vào tỷ lệ nội địa hóa, cạnh tranh trực tiếp với doanh nghiệp nội địa.
Theo ông Tống, trong các lĩnh vực công nghệ cao, chip bán dẫn, doanh nghiệp cơ khí chính xác của Việt Nam vẫn có cơ hội tham gia vào chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, xét trên góc độ cạnh tranh, doanh nghiệp Việt đang yếu thế so với các doanh nghiệp FDI cùng ngành.
“Doanh nghiệp FDI khi sang Việt Nam thường đã có sẵn khách hàng lớn trong chuỗi cung ứng của mình. Đây là những khách hàng có quan hệ theo chuỗi từ trước. Khi qua đầu tư, doanh nghiệp FDI được hưởng các chính sách ưu đãi của Chính phủ nước họ và cả ưu đãi khi đầu tư vào Việt Nam. Vậy là họ có lợi thế về thị trường và cả chính sách ưu đãi, doanh nghiệp Việt rất khó cạnh tranh nếu chỉ dựa vào nguồn lực hiện có”, ông Tống nêu.
Khơi thông liên kết, phá vỡ “nền kinh tế kép”
Theo nhiều chuyên gia, để xóa rào cản dòng vốn FDI như là những “ốc đảo” kinh tế và lan tỏa tới khu vực doanh nghiệp nội địa, TPHCM cần tập trung tháo gỡ nút thắt chiến lược. Cụ thể là khơi thông liên kết doanh nghiệp để phá vỡ “nền kinh tế kép”.
Có một thực trạng đang tồn tại là “nền kinh tế kép” - khi nơi khu vực FDI phát triển mạnh mẽ nhưng gần như tách biệt hoàn toàn với khu vực doanh nghiệp trong nước vốn còn phân mảnh và năng suất thấp. Để khắc phục, TPHCM cần triển khai các chương trình phát triển nhà cung ứng và các nền tảng kết nối trực tiếp giữa các tập đoàn đa quốc gia với doanh nghiệp nội địa. Thay vì chỉ thực hiện các khâu lắp ráp giá trị thấp, thành phố phải khuyến khích doanh nghiệp Việt tham gia cung ứng đầu vào trung gian, giúp nâng cao giá trị gia tăng được giữ lại trong nước.

Vị thế ngành bán dẫn của Việt Nam đang dần cải thiện (Ảnh: MISUMI).
TS Hà Thị Cẩm Vân, Chủ nhiệm cấp cao bộ môn Kinh tế, Khoa Kinh doanh, Đại học RMIT Việt Nam, cho hay các nghiên cứu về FDI tại Việt Nam chỉ rõ tác động tích cực của FDI không tự động xuất hiện mà phụ thuộc vào năng lực hấp thụ của doanh nghiệp nội địa, chất lượng thể chế và mức độ liên kết giữa khu vực FDI với doanh nghiệp Việt.
Do đó, cần nâng cao năng lực hấp thụ của doanh nghiệp Việt thông qua hỗ trợ đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, nghiên cứu và phát triển, quản trị. Cần tăng cường hợp tác đào tạo giữa doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp trong nước và trường đại học thông qua thực tập, phòng thí nghiệm dùng chung và trao đổi kỹ sư.
TPHCM cần tiếp tục cải thiện thể chế và môi trường đầu tư theo hướng minh bạch, ổn định và dễ dự đoán. Với các dự án công nghệ cao, nhà đầu tư không chỉ quan tâm đến ưu đãi thuế mà còn cần hạ tầng số, điện năng ổn định, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và cơ chế xử lý vướng mắc nhanh chóng.
Thành phố cần chuyển từ các hoạt động kết nối mang tính sự kiện sang chương trình phát triển nhà cung cấp theo từng ngành.
“Doanh nghiệp FDI nên công bố rõ nhu cầu về linh kiện, phần mềm, logistics và dịch vụ kỹ thuật. Từ đó, thành phố lựa chọn doanh nghiệp Việt có tiềm năng để hỗ trợ về công nghệ, quản trị chất lượng, chứng nhận quốc tế và tài chính. Các liên kết dọc này có thể giúp nâng cao năng suất và thu hẹp khoảng cách năng lực, nhưng chỉ khi doanh nghiệp nội địa đáp ứng được các tiêu chuẩn cần thiết”, TS Vân đề xuất.
Đại diện Tập đoàn VNG đề xuất việc phát triển nguồn nhân lực thông qua liên kết “ba nhà” giữa doanh nghiệp, trường đại học và viện nghiên cứu, đi kèm cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), sẽ mở ra không gian để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị công nghệ. Khi thể chế, hạ tầng, nhân lực và khả năng tiếp cận nguồn vốn được cải thiện đồng bộ, TPHCM sẽ vừa thu hút thêm các dự án công nghệ chất lượng cao, vừa hình thành một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, nơi doanh nghiệp Việt có cơ hội trở thành đối tác phát triển cùng các tập đoàn và chủ đầu tư quốc tế, thay vì chỉ là đơn vị cung ứng dịch vụ.
Thước đo thành công nằm ở chất lượng FDI
Ông Richard Barnsley, Giám đốc Khối Ngân hàng Toàn cầu, Ngân hàng HSBC Việt Nam, cho rằng Việt Nam đã nhìn rõ giới hạn của mô hình thu hút FDI dựa vào sản xuất và xuất khẩu. Giai đoạn tới, vấn đề không còn là thu hút bao nhiêu vốn, mà là tạo ra và giữ lại bao nhiêu giá trị từ dòng vốn đó. Tinh thần này được thể hiện trong Nghị quyết 10-NQ/TW, được xem như bước chuyển sang giai đoạn “Đổi Mới 2.0”. Nếu trước đây là thu hút đầu tư, thì nay là giữ chân và khai thác hiệu quả, với mục tiêu không chỉ là vốn mà là năng lực, gồm công nghệ, tri thức và đổi mới sáng tạo.
Theo ông Richard Barnsley, thước đo thành công sẽ nằm ở chất lượng FDI: có mang theo công nghệ hay không, có giúp phát triển nguồn nhân lực hay không, có thúc đẩy R&D và giúp doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu hay không. Đây mới là yếu tố quyết định tăng trưởng dài hạn.
Trong bối cảnh chuỗi cung ứng tái cấu trúc và bất định gia tăng, các doanh nghiệp ưu tiên những điểm đến ổn định, dễ dự báo và có năng lực đổi mới. Đây sẽ là lợi thế cạnh tranh then chốt của Việt Nam nói chung và TPHCM nói riêng trong việc thu hút FDI chất lượng cao.










