Chuyên gia nêu 3 lý do công trình khoa học nhiều nhưng nguồn thu "nhỏ giọt"
(Dân trí) - Theo Tiến sĩ Quách Thanh Hải, có ba nguyên nhân cốt lõi khiến khoảng cách giữa nghiên cứu trong nhà trường và nhu cầu của thị trường còn lớn, dẫn đến việc thương mại hóa chưa đạt hiệu quả.
Nhiều trường đại học hiện nay ghi nhận tổng nguồn thu ngày càng tăng qua từng năm. Hoạt động khoa học, công nghệ có nhiều bước tiến lớn nhưng nguồn thu từ lĩnh vực này vẫn còn rất khiêm tốn.
Trao đổi với phóng viên Dân trí, Tiến sĩ Quách Thanh Hải, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật TPHCM, đã chỉ ra những rào cản thực tế trong việc đưa kết quả nghiên cứu khoa học trở thành nguồn thu thực chất cho các cơ sở đào tạo.
3 lí do chưa tạo nguồn thu lớn từ khoa học công nghệ
Theo báo cáo công khai tài chính của nhiều cơ sở đào tạo đại học những năm gần đây, nguồn thu chủ yếu vẫn đến từ học phí, lệ phí. Trong khi đó, hoạt động khoa học công nghệ đã có bước phát triển rõ rệt nhưng nguồn thu từ lĩnh vực này chưa tương xứng với tiềm năng, thậm chí rất thấp. Theo ông, đâu là những nguyên nhân cốt lõi của vấn đề này?
- Thực tế tại Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật TPHCM những năm gần đây, hoạt động khoa học công nghệ đạt được nhiều thành tích đáng kể. Như trong năm 2025, số lượng công bố bài báo khoa học của trường là 1.104 bài trong đó khoảng 50% các bài báo khoa học được xuất bản trên các tạp chí uy tín Scopus/WoS.
Tuy nhiên, cũng giống như nhiều cơ sở đào tạo đại học khác, khoảng cách giữa nghiên cứu trong nhà trường và nhu cầu của thị trường vẫn còn khá lớn, dẫn đến việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu và chuyển giao công nghệ chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng. Tôi cho rằng có ba nguyên nhân cốt lõi.
Thứ nhất, nhiều nghiên cứu vẫn thiên về học thuật, phục vụ công bố khoa học hơn là hướng tới khả năng ứng dụng thực tiễn hoặc giải quyết trực tiếp bài toán của doanh nghiệp.
Thứ hai, không ít sản phẩm nghiên cứu dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm, sản phẩm nguyên mẫu (prototype) chưa hoàn thiện về tiêu chuẩn chất lượng để thực thương mại để có thể đưa ra thị trường; các sản nghiên cứu này cần nhiều thời gian, kinh phí lớn để hoàn thiện.
Thứ ba, các nhà nghiên cứu tại các cơ sở đào tạo chưa có kinh nghiệm trong việc nghiên cứu thị trường, marketing và xây dựng kênh phân phối dẫn tới khó khăn trong việc thương mại hóa các sản phẩm nghiên cứu khoa học.

Tiến sĩ Quách Thanh Hải, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật TPHCM (Ảnh: Nhà trường cung cấp).
Theo ông, điều gì khiến doanh nghiệp đang “ngại” khi hợp tác với trường để đưa nghiên cứu ra thị trường?
Theo tôi, thứ nhất, doanh nghiệp thường cần những giải pháp có tính ứng dụng cao, thời gian triển khai nhanh và hiệu quả kinh tế rõ ràng, trong khi quá trình nghiên cứu trong trường đại học thường kéo dài, phụ thuộc vào quy trình hành chính, thủ tục tài chính và cơ chế quản lý đề tài. Điều này khiến nhiều doanh nghiệp e ngại về tính linh hoạt cũng như tốc độ đáp ứng khi hợp tác với các cơ sở đào tạo.
Thứ hai, các quy định về tài chính, quy định về quyền sở hữu trí tuệ, định giá các sản phẩm sở hữu trí tuệ, phân chia quyền lợi còn chưa rõ ràng. Đặc biệt là đối với các cơ sở giáo dục công lập, việc sử dụng tài sản công, định giá các sản phẩm khoa học công nghệ còn chưa cụ thể dẫn tới doanh nghiệp e ngại trong việc hợp tác để thương mại hóa sản phẩm khoa học công nghệ.
Nhiều điểm nghẽn đang dần được tháo gỡ
Thời gian gần đây, nhiều chủ trương, chính sách lớn về khoa học, công nghệ đã được ban hành, trong đó có Nghị quyết 57/2024 của Bộ Chính trị và Nghị quyết 193/2025 của Quốc hội. Theo ông, những chính sách mới đã tháo gỡ các điểm nghẽn trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ ra sao và nhà trường đã tận dụng cơ chế này như thế nào để khoa học công nghệ tạo ra giá trị thực chất?
Tôi cho rằng các nghị quyết trên đã tạo bước đột phá quan trọng về cơ chế phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Điểm đáng chú ý là trao quyền tự chủ lớn hơn cho các cơ sở giáo dục đại học trong sử dụng kinh phí, triển khai nhiệm vụ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu; áp dụng cơ chế khoán chi theo kết quả đầu ra, chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu, đồng thời có thêm chính sách ưu đãi về thuế, đầu tư và sở hữu trí tuệ để khuyến khích doanh nghiệp tham gia nghiên cứu và chuyển giao công nghệ.
Trên cơ sở đó, trường chúng tôi đã ban hành quy định mới về nghiên cứu khoa học và công nghệ; xây dựng, hỗ trợ các nhóm nghiên cứu mạnh, đầu tư phòng thí nghiệm trọng điểm và tăng cường đặt hàng nghiên cứu gắn với nhu cầu thực tiễn.
Nhà trường cũng đẩy mạnh kết nối doanh nghiệp, địa phương. Năm 2025, trường đã phối hợp với Tập đoàn Năng lượng Việt Nam xây dựng 12 đề xuất nghiên cứu, trong đó 4 đề xuất được phê duyệt. Đồng thời, trường đặt hàng các nhóm nghiên cứu phát triển một số công nghệ chiến lược như drone, xe tự hành và các sản phẩm phục vụ trực tiếp nhu cầu thực tế của nhà trường, như Robot thư viện, hệ thống quản lý tòa nhà thông minh…

Thầy trò Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật TPHCM trong một giờ thực hành (Ảnh: Lê Tiên).
Cần đầu tư có trọng điểm và đẩy mạnh hợp tác 3 Nhà
Trong quá trình tổ chức hoạt động nghiên cứu và chuyển giao công nghệ theo cơ chế mới đã ban hành, nhà trường còn gặp những vướng mắc nào? Và vướng mắc nào là rào cản lớn nhất hiện nay?
Vướng mắc chúng tôi đang gặp phải trước hết là các quy định về quản lý tài chính đối với nhiệm vụ khoa học công nghệ còn tương đối phức tạp, đặc biệt trong việc sử dụng kinh phí, quyết toán, định giá tài sản trí tuệ và phân chia lợi ích từ thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu.
Điều này khiến quá trình triển khai nhiều đề tài và hợp tác với doanh nghiệp mất nhiều thời gian, chưa đáp ứng được tính linh hoạt của thị trường. Ngoài ra, năng lực hấp thụ công nghệ của nhiều doanh nghiệp trong nước còn hạn chế, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, nên chưa mạnh dạn đầu tư cho nghiên cứu và phát triển.
Theo quan điểm của trường, rào cản lớn nhất hiện nay chính là khoảng cách giữa nghiên cứu học thuật và nhu cầu thực tiễn của thị trường. Nhiều kết quả nghiên cứu tuy có giá trị khoa học nhưng chưa đủ mức hoàn thiện để doanh nghiệp có thể đưa vào sản xuất ngay.
Trong khi đó, doanh nghiệp thường yêu cầu tính ứng dụng cao, hiệu quả kinh tế rõ ràng và thời gian triển khai nhanh. Sự khác biệt về mục tiêu, cách tiếp cận và cơ chế vận hành giữa trường đại học và doanh nghiệp đã khiến quá trình chuyển giao công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn.
Cùng với những chủ trương, chính sách đã có, nhà trường có những kiến nghị gì để các cơ sở đào tạo/nghiên cứu thực sự tạo được đột phá trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo?
Theo tôi, Nhà nước cần đầu tư trọng điểm tránh dàn trải để xây dựng các phòng thí nghiệm trọng điểm phục vụ các hoạt động nghiên cứu khoa học có tính chiến lược phù hợp với định hướng phát triển của đất nước.
Bên cạnh đó, nhà nước cần khuyến khích hơn nữa mô hình hợp tác 3 nhà (nhà nước - nhà trường - nhà doanh nghiệp), khuyến khích hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong trường đại học, bao gồm trung tâm chuyển giao công nghệ, vườn ươm khởi nghiệp, quỹ đầu tư cho nghiên cứu ứng dụng và các chương trình hỗ trợ startup (khởi nghiệp) công nghệ. Nhà nước cũng nên có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đồng hành cùng với nhà nước tham gia đặt hàng nghiên cứu, đồng tài trợ các dự án khoa học công nghệ.
Song song đó, cần có các chính sách khuyến khích các hoạt động khoa học công nghệ theo hướng chú trọng hơn đến hiệu quả ứng dụng, số lượng sản phẩm thương mại hóa, bằng sáng chế và tác động thực tiễn đối với kinh tế – xã hội.
Xin trân trọng cảm ơn chia sẻ của ông!





