Từ vụ chủ ô tô bị phạt gần nửa tỷ đồng: Có được bỏ xe, không nộp phạt?
(Dân trí) - Theo luật sư, trong vụ phạt nguội gần nửa tỷ đồng, dù chủ ô tô có bỏ lại phương tiện, trốn tránh nghĩa vụ thi hành việc xử phạt cũng không làm mất đi trách nhiệm của người vi phạm.
Sau vụ chủ ô tô phải nộp trên 474 triệu đồng vì gần 100 lỗi phạt nguội, nhiều độc giả Dân trí băn khoăn, trường hợp này bỏ xe không nộp phạt có được không? không nộp phạt thì trách nhiệm pháp lý của chủ xe như thế nào?
Giải đáp những thắc mắc trên của độc giả, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty luật Pháp trị (Đoàn luật sư TP Hà Nội) cho biết, việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ là xử lý người thực hiện hành vi phạm quy định đảm bảo an toàn giao thông, không phải xử phạt phương tiện. Cơ quan chức năng tạm giữ xe để đảm bảo thi hành các quyết định xử phạt, ngăn chặn.
Theo luật sư, quyết định xử phạt luôn tồn tại hiệu lực và cá nhân, tổ chức vi phạm dù có bỏ lại phương tiện, trốn tránh nghĩa vụ thi hành việc xử phạt cũng không làm mất đi trách nhiệm của người vi phạm.
Trì hoãn nộp phạt vi phạm sẽ phải nộp thêm tiền lãi

Ô tô mang biển 29A-647.21 bị phạt nặng vì dính gần 100 lỗi phạt nguội ở Phú Thọ (Ảnh: Hùng Ngô).
Luật sư Lực cho biết, cứ mỗi ngày chậm nộp tiền phạt sẽ phải nộp thêm 0,05% tính trên tổng số tiền phạt chưa nộp (điều 78 luật Xử lý vi phạm hành chính).
Người vi phạm sẽ bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt theo điều 86 luật xử lý vi phạm hành chính. Việc cưỡng chế có thể là khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập, khấu trừ tiền từ tài khoản.
Người vi phạm còn có thể bị kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá. Bên cạnh đó, người vi phạm còn có thể bị thu tiền, tài sản khác do cá nhân, tổ chức khác đang giữ, trong trường hợp cố tình tẩu tán tài sản.
Khoản 15 điều 3 Thông tư 24 năm 2023 của Bộ Công an, người vi phạm trật tự, an toàn giao thông mà không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, thì chưa được giải quyết đăng ký xe. Sau khi chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm, mới được đăng ký xe theo quy định.
"Do vậy trước đây việc quản lý hành chính dân cư chưa hoàn thiện thì hành vi trốn tránh các nghĩa vụ có thể thực hiện được, cơ quan chức năng khó tìm kiếm, phát triển, thực thi việc xử phạt, cưỡng chế.
Còn trong điều kiện hiện nay, việc có căn cước công dân gắn chíp, hệ thống định danh điện tử, quản lý công dân bằng dữ liệu điện tử thì các khó khăn của cơ quan chức năng đã giảm bớt, các hành vi trốn tránh không còn điều kiện để tồn tại", luật sư nói.
Bởi đó để góp phần xây dựng một xã hội văn mình, có ý thức chấp hành pháp luật, luật sư khuyến cáo người dân cần có ý thức tôn trọng các quy tắc đạo đức, quy định pháp luật.
Theo dõi vụ chủ ô tô bị yêu cầu nộp hơn 474 triệu đồng vì gần 100 lỗi phạt nguội, nhiều bạn đọc hài hước bình luận sẽ chọn phương án "bỏ của chạy lấy người", vì giá trị của chiếc xe không bằng mức phạt phải nộp.
Theo Bộ Công an, trách nhiệm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính của người vi phạm được quy định tại Điều 74 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020).
Cụ thể, thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là một năm, kể từ ngày ra quyết định. Trong trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt cố tình trốn tránh, trì hoãn thì thời hiệu nói trên được tính kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, trì hoãn.
Tại Điều 86 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020) cũng quy định, cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt thì bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt.
Về xử lý phương tiện hết thời hạn tạm giữ mà người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp không đến nhận mà không có lý do chính đáng, Bộ Công an trích dẫn Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020).
Cụ thể, trường hợp xác định được người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp của tang vật, phương tiện thì người ra quyết định tạm giữ phải thông báo cho họ 2 lần.
Lần thông báo thứ nhất phải được thực hiện trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện. Lần thông báo thứ hai được thực hiện trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày thông báo thứ nhất.
Hết thời hạn một tháng, kể từ ngày thông báo lần thứ hai nếu người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp không đến nhận thì trong thời hạn 5 ngày làm việc, người có thẩm quyền phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.







