Quan hệ Việt - Nga vượt qua thử thách nghiệt ngã của lịch sử
(Dân trí) - Liên Xô tan rã vào năm 1991 không chỉ là thảm hoạ địa chính trị lớn nhất trong thế kỷ XX mà còn là thách thức vô cùng nghiệt ngã đối với quan hệ Việt - Nga.

Chủ tịch nước (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước) Tô Lâm và Tổng thống Nga Vladimir Putin hội đàm năm 2024 tại Hà Nội (Ảnh: Mạnh Quân).
Mối quan hệ lịch sử: Từ Liên Xô đến Liên bang Nga
Quan hệ Việt Nam - Nga là sự kế thừa mối quan hệ đặc biệt giữa Việt Nam, nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên ở Đông Nam Á, và Liên Xô, nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Năm 1950, Liên Xô chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, mở ra một chương mới trong lịch sử hai nước.
Tổng thống Nga Vladimir Putin từng khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là người khởi nguồn mối quan hệ hợp tác song phương này, ông viết: “Hồ Chí Minh - người con vĩ đại của nhân dân Việt Nam và là người bạn lớn của đất nước chúng tôi chính là người khởi nguồn mối quan hệ hợp tác song phương giữa hai nước chúng ta”.
Năm 1923, Nguyễn Ái Quốc (Chủ tịch Hồ Chí Minh) đã đến Liên Xô để tiếp thu tư tưởng Cách mạng Tháng Mười. Người từng nhận định: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”.
Tư tưởng này đã soi sáng con đường cách mạng Việt Nam, dẫn đến sự ra đời của tác phẩm "Đường Kách mệnh" (1925) và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (1930), những sự kiện mang tính quyết định cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Năm 1941, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trở về Tổ quốc để thành lập Mặt trận Việt Minh và tiến hành cuộc kháng chiến chống quân phiệt Nhật vào thời điểm đó đã thế chân thực dân Pháp ở Việt Nam.
Ngày 15/8/1945, Hồng Quân Liên Xô đánh bại Đạo quân Quan Đông, buộc quân phiệt Nhật phải chấp nhận đầu hàng vô điều kiện. Tận dụng thời cơ “ngàn năm có một” này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu quyết tâm: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.
Như vậy, chiến thắng của Hồng Quân Liên Xô trong cuộc chiến chống phát xít và quân phiệt tạo điều kiện quốc tế rất thuận lợi để Việt Nam hoàn thành thắng lợi cuộc Cách mạng Tháng Tám vào ngày 19/8/1945 và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà - mở ra thời đại Hồ Chí Minh trong lịch sử nước ta.
Trong bản Tuyên ngôn độc lập đọc tại Quảng Trường Ba Đình ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, Việt Nam giành được nền độc lập từ tay quân phiệt Nhật chứ không phải từ tay thực dân Pháp.
Trong bối cảnh "ngàn cân treo sợi tóc" sau khi Pháp quay trở lại xâm lược, sự giúp đỡ của Liên Xô có ý nghĩa quyết định. Ngày 30/1/1950, Liên Xô thiết lập quan hệ ngoại giao và cam kết viện trợ quân sự, trang bị cho Việt Nam 10 sư đoàn bộ binh, 1 trung đoàn pháo phòng không và nhiều vũ khí, đạn dược khác. Sự hỗ trợ này đã góp phần quan trọng vào chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu", buộc Pháp phải ký Hiệp định Geneve.
Giai đoạn 1955-1960, Liên Xô tiếp tục viện trợ không hoàn lại và cho vay ưu đãi để Việt Nam xây dựng, khôi phục 146 xí nghiệp, công trình, cử chuyên gia và đào tạo sinh viên. Hiệp định tương trợ năm 1960 tiếp tục củng cố hợp tác, với việc Liên Xô xây dựng và cải tạo 90 xí nghiệp và công trình quan trọng.
Trong khi đó, không chấp nhận Hiệp định Geneve, Mỹ muốn chia cắt hai miền Nam và Bắc Việt Nam. Từ năm 1964, Mỹ huy động sức mạnh quân sự của siêu cường số 1 thế giới để tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại với toan tính đưa “Việt Nam về thời kỳ đồ đá”.
Ngay từ những ngày đầu Mỹ tấn công miền Bắc nước ta, lãnh đạo Liên Xô tuyên bố dứt khoát đứng về phía nhân dân Việt Nam: “Không thể thờ ơ trước vận mệnh của một nước xã hội chủ nghĩa anh em và chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ trong trường hợp cần thiết".
Để giúp Việt Nam đối phó với cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ ở Miền Bắc trong những năm 1964-1973, Liên Xô giúp Việt Nam nhiều loại vũ khí hiện đại. Trong đó có 95 tổ hợp tên lửa phòng không S-75 Dvina (SAM-2) kèm theo 7.658 tên lửa; khoảng 800 máy bay các loại như MiG-17, MiG-19, MiG-21; hàng nghìn pháo phòng không và hàng trăm xe tăng.
Ngoài ra, từ tháng 7/1965 đến cuối năm 1974, Liên Xô điều động 11.000 chuyên gia quân sự sang giúp Việt Nam, trong đó có khoảng 6.500 sĩ quan và tướng lĩnh cùng hơn 4.500 quân nhân. Vũ khí của Liên Xô là yếu tố có ý nghĩa rất quan trọng giúp Việt Nam đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ và làm nên “Điện Biên Phủ trên không” vào cuối năm 1972, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam vào ngày 27/1/1973.
Sau Hiệp định Paris, Liên Xô tiếp tục giúp Việt Nam khôi phục kinh tế và giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975. Liên Xô đã hỗ trợ Việt Nam xây dựng khoảng 300 công trình lớn như thủy điện Hòa Bình, Yaly, nhà máy xi măng Bỉm Sơn, cầu Thăng Long, Liên doanh Vietsovpetro.
Ngày 3/11/1978, Liên Xô và Việt Nam ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác, tiếp tục viện trợ quân sự và đào tạo hàng chục nghìn sinh viên, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.
Ngày 29/9/2025, trong buổi tiếp Chủ tịch Duma quốc gia Nga và Đoàn đại biểu cấp cao Quốc hội Liên bang Nga thăm chính thức Việt Nam và tham dự Phiên họp lần thứ 4 Ủy ban hợp tác liên Nghị viện giữa Quốc hội Việt Nam và Quốc hội Nga, nguyên Chủ tịch nước Lương Cường khẳng định: “Nếu không có Cách mạng Tháng Mười Nga, không có chiến thắng phát xít và sự ủng hộ chí tình, chí nghĩa của Liên Xô cho công cuộc kháng chiến và tái thiết đất nước, thì không có Việt Nam ngày nay”.
Khẳng định của nguyên Chủ tịch nước Lương Cường thể hiện đạo lý sâu xa và cao quý của người Việt Nam là “uống nước nhớ nguồn”.

Thủ tướng Lê Minh Hưng hội kiến Tổng thống Nga Vladimir Putin ngày 18/6 (Ảnh: Dương Giang/TTXVN).
Vượt qua thử thách nghiệt ngã của lịch sử
Hậu quả trực tiếp của công cuộc “cải tổ” trong những năm 1980 là Đảng Cộng sản Liên Xô tan rã và Liên bang Xô Viết sụp đổ vào năm 1991. Nhận định về sự kiện này, Tổng thống Nga Putin cho rằng đó là thảm họa địa chính trị lớn nhất trong thế kỷ XX.
Trong bài viết đăng trên Tạp chí Cộng sản năm 1992 với tiêu đề “Vì sao Đảng Cộng sản Liên Xô tan rã?”, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhận định rằng Đảng Cộng sản Liên Xô có lịch sử vô cùng oanh liệt và vẻ vang, đã từng lãnh đạo nhân dân làm nên Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, đánh thắng chủ nghĩa phát xít trong Chiến tranh thế giới thứ hai, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật quan trọng của chủ nghĩa xã hội, mở ra một giai đoạn phát triển mới trong lịch sử nhân loại. Do đó, Liên Xô tan rã là tổn thất hết sức nặng nề và đau buồn và không khỏi gây nên những chấn động bàng hoàng trong những người cộng sản trên toàn thế giới, trong đó có những người cộng sản Việt Nam.
Sự tan rã của Liên Xô năm 1991 đã đặt ra thách thức lớn cho quan hệ Việt – Nga. Tuy nhiên, với chính sách đối ngoại "Việt Nam là bạn với tất cả các quốc gia mà không phân biệt thể chế chính trị" được thông qua tại Đại hội VII, Việt Nam vẫn duy trì quan hệ hữu nghị tốt đẹp với Liên bang Nga.
Năm 1994, Thủ tướng Võ Văn Kiệt thăm chính thức Liên bang Nga, ký Hiệp ước về những nguyên tắc cơ bản trong quan hệ song phương. Năm 2001, Tổng thống Putin thăm Việt Nam, ký Tuyên bố chung về quan hệ đối tác chiến lược. Nga coi Việt Nam là đối tác quan trọng ở châu Á - Thái Bình Dương.
Năm 2012, trong chuyến thăm Nga của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, hai bên ra Tuyên bố chung về tăng cường quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, khẳng định tầm quan trọng của sự hợp tác toàn diện, kế thừa xứng đáng truyền thống hữu nghị và tương trợ.
Tuyên bố chung Việt Nam - Liên bang Nga năm 2012 cũng khẳng định quan điểm xây dựng một trật tự thế giới mới công bằng, dân chủ, dựa trên luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc. Hai bên phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn quốc tế, Nga đánh giá cao vai trò của Việt Nam trong ASEAN và đề nghị Việt Nam làm cầu nối tăng cường quan hệ Nga - ASEAN.
Hai bên cho rằng các tranh chấp lãnh thổ và các tranh chấp khác trong không gian châu Á - Thái Bình Dương cần được giải quyết chỉ bằng biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, trên cơ sở luật pháp quốc tế, trước hết là Hiến chương Liên Hợp quốc và Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982.
Hai bên ủng hộ việc thực thi đầy đủ Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002 và tiến tới sớm xây dựng Bộ quy tắc ứng xử của các bên tại Biển Đông. Quan điểm rất cơ bản này của Nga trong quan hệ với Việt Nam góp phần cùng các cường quốc khác trong và ngoài khu vực tạo dựng môi trường hoà bình, hợp tác và phát triển bền vững trên cơ sở tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau đã được công pháp quốc tế công nhận.
Ngày 29/5/2015, Việt Nam ký Hiệp định thương mại tự do (FTA) với Liên minh kinh tế Á - Âu (EAEU), mở ra cơ hội mới và tăng cường vai trò cầu nối của Việt Nam giữa EAEU và ASEAN.
Năm 2021, lãnh đạo Việt Nam và Nga ký Tuyên bố chung về tầm nhìn quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện đến năm 2030, khẳng định mối quan hệ dựa trên nền tảng hữu nghị truyền thống, hợp tác cùng có lợi, vượt qua thử thách của thời gian và là hình mẫu cho sự tôn trọng lẫn nhau.
Quan điểm cân bằng của Việt Nam nhận được sự ủng hộ của Nga và cộng đồng quốc tế. Trong Tuyên bố chung Việt Nam - Nga trong chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Putin trong năm 2025, Nga đánh giá cao lập trường cân bằng, khách quan của Việt Nam về vấn đề Ucraine. Hai bên khẳng định chủ trương không ngừng củng cố quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt - Nga trên tinh thần hữu nghị và ủng hộ lẫn nhau trong bối cảnh quốc tế phức tạp.
Tuyên bố chung Việt Nam - Nga khẳng định quan hệ song phương đã đứng vững trước các biến động, góp phần củng cố hòa bình, ổn định và an ninh tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương và trên thế giới.
Với nỗ lực chung của hai bên, quan hệ hợp tác nhiều mặt Việt - Nga tiếp tục phát triển tích cực phù hợp với lợi ích hai quốc gia, là tài sản vô giá của nhân dân hai nước và là hình mẫu của quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác cùng có lợi.










