DNews
Thế giới

"Đại sứ vải thiều" và hành trình thay đổi hình ảnh Việt Nam trong mắt người Australia

(Dân trí) - Nhiều năm sau nhiệm kỳ Đại sứ Việt Nam tại Australia, ông Lương Thanh Nghị vẫn nhớ câu chuyện những quả vải thiều đầu tiên vượt qua hàng loạt “cửa ải” để có mặt tại một trong những thị trường khắt khe nhất thế giới.

Với ông, phía sau một trái vải là câu chuyện lớn hơn về cách Việt Nam mở cửa thị trường, xây dựng lòng tin và từng bước thay đổi vị thế của mình.

Năm 2014, ông Lương Thanh Nghị nhận nhiệm vụ Đại sứ Việt Nam tại Australia.

Trong rất nhiều công việc của một nhiệm kỳ ngoại giao, có một nhiệm vụ nghe qua tưởng nhỏ nhoi giữa muôn vàn câu chuyện quốc gia đại sự giữa hai đất nước: Đưa quả vải thiều tươi của Việt Nam vào Australia.

Nhưng đó lại trở thành một trong những việc khó nhất và cũng đáng nhớ nhất trong nhiệm kỳ của ông.

Khi ấy, hồ sơ mở cửa thị trường cho vải thiều Việt Nam đã trải qua hơn 12 năm đàm phán. Australia nổi tiếng với hệ thống kiểm dịch sinh học và an toàn thực phẩm nghiêm ngặt. Muốn một trái vải từ Việt Nam xuất hiện trên quầy hàng tại Sydney hay Melbourne, phía sau nó là hàng loạt yêu cầu về vùng trồng, quy trình canh tác, bảo quản sau thu hoạch, chiếu xạ, đóng gói, nhãn mác và vận chuyển.

"Chuyện họ nhập về một trái vải, không chỉ đơn thuần là câu chuyện kỹ thuật", vị cựu đại sứ nhớ lại.

Khi đó, Đại sứ quán Việt Nam tại Australia phải vận dụng nhiều kênh ngoại giao, đưa vấn đề vào các cuộc tiếp xúc cấp cao. Ông Lương Thanh Nghị trực tiếp nhiều lần gặp, trao đổi với Bộ trưởng Nông nghiệp và Tài nguyên nước, Bộ trưởng Ngoại giao và Thương mại cùng các quan chức cấp cao của Australia. Nhưng muốn đối tác mở cửa, Việt Nam cũng phải nhìn bài toán từ phía họ.

“Phải theo tinh thần win-win”, ông trầm ngâm nói.

Điều đó có nghĩa Việt Nam không chỉ chứng minh trái vải an toàn, mà còn phải hiểu thị trường Australia cần gì, người tiêu dùng muốn gì và làm thế nào để một sản phẩm từ Việt Nam đủ sức đứng cạnh hàng hóa của nhiều quốc gia khác.

Có thời điểm, gần như mọi câu chuyện trong Đại sứ quán đều xoay quanh… trái vải.

“Trong khoảng một năm, chúng tôi thường nói vui với nhau là "ăn vải, ngủ vải", với quyết tâm phải giải quyết bằng được hồ sơ vải thiều trong nhiệm kỳ 3 năm của Chính phủ Australia”, ông Lương Thanh Nghị kể.

Và biệt danh “Đại sứ vải thiều” cũng xuất hiện từ đó.

Ông Lương Thanh Nghị cười tươi khi nhắc lại biệt danh này và ngay lập tức nói rằng đó chỉ là cách gọi vui. Thành công ấy không thuộc về riêng một cá nhân. Đằng sau những trái vải đầu tiên là công sức của nhiều bộ, ngành, cơ quan đại diện Việt Nam tại Australia, doanh nghiệp, nhà khoa học và đặc biệt là người nông dân.

Vị cựu đại sứ nhấn mạnh: Có những “cửa ải” không nằm ở bàn đàm phán Canberra. Chúng nằm ngay trên những vườn vải ở Việt Nam.

Đại sứ vải thiều và hành trình thay đổi hình ảnh Việt Nam trong mắt người Australia - 1

Nguyên Đại sứ Việt Nam tại Australia Lương Thanh Nghị (Ảnh: NVCC).

“Cửa ải” từ vườn vải đến bàn ăn Australia

Muốn vào Australia, trái vải phải có nguồn gốc vùng trồng rõ ràng, đáp ứng tiêu chuẩn canh tác, kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm và nhiều yêu cầu kỹ thuật khác. Nhưng thời điểm ấy, Việt Nam còn thiếu hệ thống chiếu xạ phù hợp ở miền Bắc.

Những trái vải tươi từ Lục Ngạn phải đi một hành trình đầy nghịch lý: từ Bắc Giang vào TPHCM để chiếu xạ, rồi mới lên máy bay sang Australia. Mỗi cây số vận chuyển đều đồng nghĩa với chi phí. Mỗi giờ kéo dài đều có thể ảnh hưởng tới chất lượng một loại quả vốn rất mong manh và khó bảo quản.

Nếu không giải quyết được bài toán công nghệ, trái vải Việt Nam dù ngon cũng khó cạnh tranh khi tới thị trường Australia. Và chính sức ép từ một thị trường khó tính đã tạo ra thay đổi ngược trở lại trong nước.

Công nghệ bảo quản được cải thiện. Hệ thống chiếu xạ được đầu tư tại Hà Nội. Các vùng trồng phải tuân thủ những tiêu chuẩn cao hơn như VietGAP, GlobalGAP. Từ người nông dân đến doanh nghiệp, nhà khoa học và cơ quan quản lý cùng phải thay đổi cách làm.

Đại sứ vải thiều và hành trình thay đổi hình ảnh Việt Nam trong mắt người Australia - 2

Những vị khách nước ngoài thưởng thức vải thiều Việt Nam khi những trái vải thiều đầu tiên của Việt Nam được đưa vào Australia năm 2015 (Ảnh: NVCC).

Tháng 5/2015, sau hơn 12 năm đàm phán, những lô vải thiều tươi đầu tiên của Việt Nam chính thức có mặt tại Australia. Đối với ông Lương Thanh Nghị, ý nghĩa của sự kiện không chỉ nằm ở số lượng vải bán được. Quan trọng hơn rất nhiều, một cánh cửa đầy hy vọng đã mở ra.

Sau vải thiều là xoài, thanh long và những loại trái cây khác của Việt Nam thành công tại thị trường Australia. Một sản phẩm nông nghiệp tưởng rất nhỏ đã cho thấy một điều: Khi Việt Nam đáp ứng được những chuẩn mực cao nhất, thị trường thế giới sẽ mở ra.

Và đôi khi, ngoại giao kinh tế bắt đầu từ những câu chuyện cụ thể như vậy. Giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam những năm gần đây tăng trưởng nhanh, đạt khoảng 70 tỷ USD, trong đó có nhiều mặt hàng nông sản “tỷ đô”. Riêng vải thiều đã có mặt tại trên 40 quốc gia và được đánh giá cao về chất lượng, an toàn thực phẩm.

Nhiệm kỳ đáng nhớ

Nhìn lại nhiệm kỳ 2014-2017, ông Lương Thanh Nghị cho rằng mình may mắn công tác tại Australia đúng vào thời điểm quan hệ hai nước bước vào một giai đoạn chuyển động mạnh. Việt Nam và Australia khi ấy đã là Đối tác toàn diện, nhưng dư địa hợp tác còn rất lớn.

Yêu cầu đặt ra cho cả hai bên là làm sâu sắc hơn các lĩnh vực hợp tác truyền thống và mở rộng sang các lĩnh vực hợp tác khác như tăng cường tin cậy chính trị, thúc đẩy hợp tác an ninh, quốc phòng, thực thi pháp luật và khoa học và công nghệ…

Nhiệm vụ không chỉ là duy trì những lĩnh vực truyền thống như thương mại, đầu tư, giáo dục, mà còn phải gia tăng lòng tin chính trị và mở những không gian hợp tác mới về an ninh, quốc phòng, thực thi pháp luật, khoa học - công nghệ.

Trong ba năm ông làm Đại sứ, quan hệ hai nước được nâng lên Đối tác toàn diện tăng cường, tạo tiền đề để trở thành Đối tác chiến lược năm 2018 và sau đó là Đối tác chiến lược toàn diện vào tháng 3/2024.

Nhưng với một nhà ngoại giao đã đi qua nhiều giai đoạn của quan hệ hai nước, những khái niệm ấy chỉ thực sự có ý nghĩa khi chúng được chuyển hóa thành những lợi ích cụ thể. Đó có thể là một trái vải được mở cửa thị trường. Một sinh viên Việt Nam được học tập tại Australia.

Một dự án đầu tư được triển khai. Một công nghệ mới được chuyển giao. Hay đơn giản là việc người dân hai nước ngày càng hiểu nhau hơn.

Trong hơn 2 năm kể từ khi hai nước quyết định nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện, nhìn vào nội dung, cách thức và kết quả triển khai 6 trụ cột hợp tác cốt lõi, bao gồm chính trị - ngoại giao, quốc phòng - an ninh, kinh tế, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, hợp tác khu vực và quốc tế, có thể thấy bản chất chiến lược của quan hệ song phương Việt Nam - Australia đã khác trước.

Hai nước không chỉ là đối tác tốt của nhau, mà là đối tác dựa trên lòng tin chiến lược được thử thách qua thời gian với dày đặc các cơ chế, khung khổ; phạm vi hợp tác vừa truyền thống vừa hướng tới tương lai, cả song phương lẫn đa phương, cùng kiến tạo lợi ích chiến lược lâu dài, bền vững vì một khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương ổn định, mở và dựa trên luật lệ.

Nếu dùng 3 từ để khái quát về “tính chất ngoại giao” giữa Việt Nam và Australia, hai quốc gia tuy khác biệt về thể chế, văn hóa nhưng lại tìm thấy rất nhiều điểm chung chiến lược, Đại sứ Lương Thanh Nghị khẳng định đây là mối quan hệ “tin cậy - năng động - chiến lược”.

Đại sứ vải thiều và hành trình thay đổi hình ảnh Việt Nam trong mắt người Australia - 3

Đại sứ Lương Thanh Nghị chụp ảnh chung với kiều bào tại Australia dịp Tết 2016 (Ảnh: NVCC).

Nguyên Đại sứ Việt Nam tại Australia tin rằng hai nước hiện đã đạt mức độ tin cậy chính trị cao thông qua việc thường xuyên trao đổi các chuyến thăm và tiếp xúc cấp cao.

Nhiều cơ chế hợp tác được thiết lập đặc biệt là cơ chế Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao thường niên, Đối thoại Ngoại giao - Quốc phòng, Đối thoại Chính sách quốc phòng, Đối thoại An ninh cấp Bộ trưởng, Đối thoại cấp Bộ trưởng về Năng lượng và khoáng sản. Ngoài ra hai nước còn có các cơ chế khác như Đối thoại quan chức cấp cao Việt Nam - Australia, Đối thoại biển Việt Nam - Australia, Đối thoại An ninh biển Việt Nam - Australia và đối thoại, tham vấn thường xuyên giữa các bộ, ngành hai nước. Hai nước cũng đã thiết lập Trung tâm Phòng chống tội phạm xuyên quốc gia Việt Nam - Australia từ 2010, Trung tâm công nghệ chiến lược Australia - Việt Nam (6/2025), Trung tâm Việt - Australia (2022) và hợp tác chặt chẽ thông qua các chương trình như Aus4Skills, Aus4Innovation, hợp tác giữa các địa phương cũng như giao lưu nhân dân được tích cực thúc đẩy.

Hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư cũng diễn ra sôi động và đạt nhiều kết quả quan trọng. Năm 2025, kim ngạch thương mại giữa hai nước đạt 14 tỷ USD, tổng vốn đầu tư của Australia tại Việt Nam đạt gần 2 tỷ USD với hơn 700 dự án, Việt Nam đầu tư sang Australia đạt khoảng 550 triệu USD.

Khi người Australia không còn nhìn Việt Nam qua chiến tranh

Đại sứ vải thiều và hành trình thay đổi hình ảnh Việt Nam trong mắt người Australia - 4

Đại sứ Lương Thanh Nghị gặp Ngoại trưởng Australia khi đó là bà Julie Bishop vào tháng 5/2014 để trao đổi về các vấn đề hai bên cùng quan tâm (Ảnh: NVCC).

Có một thay đổi khác mà ông Lương Thanh Nghị cảm nhận rất rõ trong những năm công tác tại Australia. Đó là cách người Australia nhìn Việt Nam.

Trong nhiệm kỳ Đại sứ, ông đã tới tất cả các bang và vùng lãnh thổ của Australia, gặp từ quan chức chính phủ, giới trí thức, doanh nhân đến cựu chiến binh và cộng đồng người Việt.

Những cuộc gặp ấy cho ông thấy hình ảnh Việt Nam đang thay đổi mỗi ngày. Trước đây, trên truyền thông và trong ký ức của nhiều người Australia, Việt Nam thường xuất hiện cùng hai chữ “chiến tranh”. 

Nhưng theo thời gian, một Việt Nam khác ngày càng hiện rõ. Đó là Việt Nam của tăng trưởng kinh tế, cơ hội đầu tư, những thành phố năng động, văn hóa, ẩm thực và du lịch.

Đặc biệt với thế hệ Australia sinh sau thập niên 1990, chiến tranh không còn là lăng kính chính để họ nhìn Việt Nam.

“Việt Nam ngày nay được nhìn nhận nhiều hơn như một nền kinh tế đang phát triển mạnh, một đối tác đáng tin cậy và một điểm đến văn hóa, du lịch hấp dẫn”, ông nhận xét.

Sự thay đổi ấy không diễn ra trong một ngày. Dù ký ức về chiến tranh vẫn còn hiện diện, đặc biệt ở thế hệ cựu binh, nhưng nó không còn là lăng kính chủ đạo khi người Australia nhìn về Việt Nam.

Nó được tích lũy từ hàng triệu cuộc gặp gỡ giữa con người với con người, từ những sinh viên, doanh nhân, nhà khoa học, du khách, những gia đình Việt - Australia và cả cộng đồng khoảng 350.000 người Việt đang sinh sống tại Australia.

Và đó có lẽ là một trong những thành quả sâu nhất của ngoại giao: Thay đổi cách một dân tộc được nhìn thấy trong mắt một dân tộc khác.

"Kho báu" 350.000 người Việt

Ông Lương Thanh Nghị đặc biệt nhấn mạnh vai trò của cộng đồng người Việt Nam tại Australia. Theo ông, đây không chỉ là cầu nối tình cảm với quê hương. Đó còn là một nguồn lực về tri thức, công nghệ, kinh nghiệm và mạng lưới quốc tế mà Việt Nam chưa khai thác hết.

Nhiều trí thức Việt tại Australia hiện làm việc trong những lĩnh vực đang quyết định cuộc cạnh tranh công nghệ toàn cầu như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ lượng tử, công nghệ sinh học hay máy bay không người lái.

Mạng lưới Đổi mới sáng tạo Việt Nam tại Australia cùng nhiều câu lạc bộ, diễn đàn trí thức tại các bang và trường đại học đang tạo ra những kết nối ngày càng sâu với trong nước. Nhưng theo ông, nếu chỉ kêu gọi kiều bào “hướng về quê hương” thì chưa đủ.

Muốn biến nguồn lực ấy thành sức mạnh phát triển, Việt Nam phải có những bài toán cụ thể để họ tham gia giải.

Các bộ, ngành và địa phương cần có cơ chế “đặt hàng” chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài vào những chương trình, dự án cụ thể; có đầu mối tiếp nhận; có cơ chế phối hợp và phản hồi để những ý tưởng tốt không dừng lại sau một hội nghị hay một cuộc gặp.

Quan trọng hơn cả là cách nhìn về nhân tài. “Không chỉ ưu đãi mà quan trọng là phải trọng dụng. Nhất là tạo môi trường, không gian đủ để lực lượng trí thức, nhân tài tự do sáng tạo và cống hiến”, vị cựu đại sứ nhấn mạnh.

Khi Việt Nam và Australia “ngày càng cần nhau hơn”

Trong bối cảnh quan hệ Việt Nam - Australia đã có những chuyển biến rõ rệt, đạt nhiều kết quả thực chất sau hơn 2 năm triển khai quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có chuyến thăm chính thức cấp nhà nước tới Australia.

Đại sứ Lương Thanh Nghị cho rằng chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Australia sẽ tạo ra nhiều xung lực mới mang tính chiến lược trong quan hệ hai nước.

Việc lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước Việt Nam thăm Australia thể hiện sự coi trọng đối tác chiến lược quan trọng hàng đầu ở khu vực, từ đó củng cố ngày càng vững chắc sự tin cậy chính trị giữa hai quốc gia.

Nhân dịp này, trên cơ sở đánh giá kết quả Chương trình hành động triển khai quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giai đoạn 2024-2027, hai bên có thể sẽ trao đổi các biện pháp thiết thực, cụ thể để nâng tầm hợp tác trong các lĩnh vực mà Australia có thế mạnh và Việt Nam có nhu cầu như chuyển đổi năng lượng, khoáng sản, nông nghiệp công nghệ cao, tăng trưởng xanh, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, giáo dục và phát triển nguồn nhân lực.

Bên cạnh đó, các hợp tác chiến lược khác như đảm bảo an ninh kinh tế, chuỗi cung ứng, tư pháp, hợp tác khu vực và toàn cầu cũng tiếp tục được thúc đẩy theo hướng thực chất, hiệu quả, đi vào chiều sâu, tương xứng với tầm vóc của quan hệ hai nước hiện nay.

Trước những thay đổi mang tính cấu trúc của môi trường chiến lược khu vực và thế giới như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ ra trong phát biểu dẫn đề tại Đối thoại Shangri-La lần thứ 23 vừa qua, trên cơ sở định hướng phát triển của hai nước, Đại sứ Lương Thanh Nghị cho rằng Việt Nam và Australia ngày càng cần nhau hơn, không chỉ để phát triển thịnh vượng mà còn để tăng cường khả năng tự chủ chiến lược, cùng góp phần định hình tương lai của khu vực.

Điều đó xuất phát từ việc hai nước cùng chia sẻ lợi ích về một khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương hòa bình, ổn định, dựa trên luật lệ và vai trò trung tâm của ASEAN. Hai nền kinh tế Việt Nam và Australia có thế mạnh khác nhau nhưng bổ sung cho nhau trong chuỗi cung ứng, chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo. Hai nước cũng cần nâng cao khả năng chống chịu trước cạnh tranh nước lớn, biến đổi khí hậu và các thách thức an ninh phi truyền thống.

Theo Đại sứ Lương Thanh Nghị, chiến lược phát triển của Việt Nam và Australia có nhiều điểm tương đồng. Australia đang đẩy mạnh chiến lược kinh tế Đông Nam Á đến năm 2040, còn Việt Nam đang hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển vào năm 2045.

Cả Việt Nam và Australia đều coi ASEAN, và rộng hơn là Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương là không gian phát triển của mình trong thời gian tới, không chỉ là thị trường mà còn là trung tâm của chuỗi giá trị toàn cầu. Hai nước đều xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực tăng trưởng; chú trọng phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao; quyết tâm chuyển đổi xanh, phát triển bền vững và mong muốn tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng đa dạng và chuỗi giá trị khu vực.

Nhìn vào thực tế quan hệ hai nước thời gian qua, có thể thấy chiến lược của Australia và định hướng phát triển của Việt Nam đang bổ trợ lẫn nhau, mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp và người dân hai nước. Điều này cũng đã được thể hiện rất rõ trong Chiến lược tăng cường hợp tác kinh tế mà hai nước đã thông qua từ tháng 11/2021. Theo đó, cả Việt Nam và Australia đều thể hiện quyết tâm trong việc thúc đẩy thương mại và đầu tư song phương nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững và bao trùm của hai nước.

Chiến lược đặt ra tầm nhìn và cách thức mà Việt Nam và Australia có thể hợp tác nhằm đạt mục tiêu trở thành top 10 đối tác thương mại hàng đầu và tăng gấp đôi đầu tư hai chiều. Chiến lược này cũng xác định một số lĩnh vực hợp tác tiềm năng như giáo dục - đào tạo, tài nguyên và năng lượng, nông lâm nghiệp và thủy sản, các ngành sản xuất và du lịch, dịch vụ, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, kinh tế số.