DNews
Kinh doanh

Thị trường 17 triệu người dùng: Sàn tài sản số Việt phải làm gì để cạnh tranh?

(Dân trí) - Luật hóa tài sản mã hóa mở ra cơ hội hút vốn ngoại, song Việt Nam cần những tài sản gắn với doanh nghiệp trong nước để dòng tiền quốc tế tìm đến.

Khi thị trường tài sản số đã có khung pháp lý, bao gồm Nghị định 284/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài sản mã hóa và thị trường tài sản mã hóa có hiệu lực từ ngày 1/9, bài toán tiếp theo là làm sao biến hành lang pháp lý này thành cơ hội thu hút dòng vốn ngoại.

Để dòng vốn quốc tế thực sự chảy vào Việt Nam, thị trường không chỉ cần các sàn giao dịch được cấp phép mà còn phải có những tài sản gắn với doanh nghiệp trong nước, tạo cơ sở để nhà đầu tư quốc tế tham gia.

Trao đổi với phóng viên Dân trí, ông Trần Xuân Tiến, Tổng thư ký Chi hội Blockchain TPHCM, nhận định về cơ hội thu hút dòng vốn ngoại khi thị trường tài sản số được luật hóa.

Khi thị trường tài sản số được luật hóa và có cơ chế cấp phép chính thức, Việt Nam có thể kỳ vọng thu hút những dòng vốn nào từ các quỹ đầu tư, tổ chức tài chính và doanh nghiệp quốc tế? Theo ông, nhóm vốn nào có khả năng tham gia thị trường sớm nhất?

- Khi thị trường có khung pháp lý rõ ràng, trước hết có thể kỳ vọng dòng vốn từ các tổ chức tài chính hoạt động hợp pháp. Đây có thể là những tổ chức đang hoạt động trong lĩnh vực tài chính, chứng khoán và các thị trường đầu tư khác, khi thấy thị trường tài sản số đã có hành lang pháp lý thì có thể bắt đầu phân bổ một phần vốn để tìm kiếm cơ hội.

Ngoài ra, một số doanh nghiệp cũng có thể đưa vốn vào thị trường khi đã có quy định rõ ràng và những cơ hội đầu tư cụ thể. Khi thị trường chính thức được công nhận, tâm lý của các tổ chức, doanh nghiệp cũng sẽ khác so với giai đoạn thị trường còn nằm trong vùng chưa rõ ràng về pháp lý.

Thị trường 17 triệu người dùng: Sàn tài sản số Việt phải làm gì để cạnh tranh? - 1

Ông Trần Xuân Tiến, Tổng thư ký Chi hội Blockchain TPHCM (Ảnh: Nam Phong).

Nhưng theo tôi, vấn đề quan trọng hơn là Việt Nam phải có tài sản để nhà đầu tư nước ngoài đầu tư.

Nếu các sàn giao dịch trong nước sau khi được cấp phép chỉ tập trung giao dịch bitcoin, ethereum hoặc những tài sản phổ biến trên thế giới thì rất khó kỳ vọng một lượng lớn vốn ngoại chảy vào Việt Nam. Nhà đầu tư nước ngoài muốn mua bitcoin hay ethereum không nhất thiết phải đưa tiền vào Việt Nam, bởi họ có thể giao dịch những tài sản này trên các nền tảng quốc tế.

Do đó, muốn thu hút vốn ngoại thực chất, Việt Nam cần có chính sách để doanh nghiệp trong nước được phát hành và đưa tài sản số lên các sàn giao dịch trong nước. Khi đó, nhà đầu tư nước ngoài có thể mua những tài sản gắn với doanh nghiệp Việt Nam, và dòng vốn mới thực sự đi vào doanh nghiệp, nền kinh tế Việt Nam.

Với quy mô giao dịch lớn và khoảng 17 triệu người tham gia thị trường, ông đánh giá thế nào về tiềm năng của Việt Nam trên bản đồ tài sản số khu vực? Việc luật hóa thị trường sẽ giúp Việt Nam cạnh tranh ra sao với Singapore, Hong Kong (Trung Quốc) và UAE?

 Việt Nam có một lợi thế rất rõ là quy mô người dùng. Khoảng 17 triệu người tham gia thị trường tài sản số là một con số đáng kể. Người Việt Nam cũng khá nhạy bén với công nghệ, có khả năng tiếp cận nhanh và sẵn sàng thử nghiệm những sản phẩm mới.

Đây là nền tảng quan trọng để hình thành một thị trường tài sản số trong nước. Khi có một lượng người dùng đủ lớn, doanh nghiệp sẽ có động lực phát triển sản phẩm, dịch vụ và đầu tư vào hạ tầng phục vụ thị trường.

Tuy nhiên, không thể nghĩ rằng cứ có 17 triệu người dùng thì một sàn giao dịch trong nước ra đời sẽ mặc nhiên thu hút được họ. Người dùng sẽ lựa chọn nền tảng nào có sản phẩm tốt, thanh khoản tốt, nhiều tính năng và trải nghiệm thuận tiện.

Có thể hình dung như câu chuyện mạng xã hội. Việt Nam có rất nhiều người sử dụng Facebook, nhưng nếu xuất hiện một nền tảng mạng xã hội mới thì không có nghĩa người dùng sẽ lập tức chuyển sang. Nền tảng mới phải có tính năng, trải nghiệm và những giá trị đủ tốt mới có thể cạnh tranh.

Thị trường tài sản số cũng như vậy. Quy mô người dùng là lợi thế rất lớn, nhưng các sàn trong nước phải chứng minh được năng lực về sản phẩm, công nghệ, thanh khoản và dịch vụ.

Còn nếu so với Singapore, Hong Kong hay UAE thì cần nhìn ở một góc độ khác. Đây đều là những trung tâm tài chính quốc tế, có khả năng thu hút dòng vốn từ rất nhiều quốc gia và phục vụ nhà đầu tư toàn cầu. Một sàn giao dịch của Việt Nam nếu chủ yếu phục vụ người dùng Việt Nam thì chưa thể đặt lên cùng một mặt bằng cạnh tranh với những trung tâm này.

Vì vậy, Việt Nam không chỉ cần xây dựng thị trường trong nước mà còn phải có chính sách để doanh nghiệp và các sàn giao dịch của Việt Nam có thể mở rộng ra thị trường quốc tế. Khi doanh nghiệp trong nước có khả năng cung cấp sản phẩm cho người dùng quốc tế và thu hút được dòng vốn từ bên ngoài, thị trường tài sản số Việt Nam mới có thể mở rộng về quy mô.

Thị trường 17 triệu người dùng: Sàn tài sản số Việt phải làm gì để cạnh tranh? - 2

Đồng tiền số Bitcoin (Ảnh: Nam Phong).

Trong bối cảnh các sàn quốc tế như Binance, OKX hay MEXC phải tính toán lại cách hiện diện tại Việt Nam, Việt Nam cần làm gì để vừa kiểm soát rủi ro, vừa đủ sức hấp dẫn các sàn, quỹ đầu tư và doanh nghiệp quốc tế ở lại, đầu tư dài hạn?

 Đối với Binance, OKX hay các sàn quốc tế khác, họ hoạt động ở nhiều quốc gia nên đã quen với việc phải tuân thủ quy định pháp luật của từng thị trường. Nếu Việt Nam có một thị trường đủ hấp dẫn và có cơ chế pháp lý rõ ràng, các nền tảng này hoàn toàn có thể tính toán việc tham gia theo một hình thức phù hợp.

Việt Nam có lợi thế về quy mô người dùng và đây là yếu tố mà các nền tảng quốc tế chắc chắn quan tâm. Binance, OKX cũng từng có những động thái tìm hiểu và tiếp cận thị trường Việt Nam. Khi thị trường được luật hóa, nếu cơ chế tham gia rõ ràng và điều kiện kinh doanh phù hợp, khả năng các nền tảng quốc tế tham gia là có.

Tôi cho rằng trong giai đoạn đầu, Việt Nam nên tạo không gian để các sàn trong nước phát triển. Các doanh nghiệp trong nước cần có thời gian xây dựng sản phẩm, thanh khoản, công nghệ và niềm tin với người dùng.

Sau đó, nếu các nền tảng quốc tế muốn tham gia và đáp ứng đầy đủ các điều kiện, Việt Nam cũng cần có cơ chế rõ ràng để họ tham gia. Mục tiêu không phải là loại bỏ các sàn quốc tế, mà là tạo ra một thị trường cạnh tranh, minh bạch và kiểm soát được rủi ro.

Ngoài một khung pháp lý rõ ràng, Việt Nam cần thêm những chính sách nào về thuế, cấp phép, ngoại hối, lưu ký và bảo vệ nhà đầu tư để giữ chân dòng vốn ngoại, đồng thời giúp thị trường tài sản số tạo ra đóng góp thực chất cho nền kinh tế?

Điều quan trọng nhất vẫn là sự rõ ràng của chính sách. Doanh nghiệp blockchain cần biết rõ mình được làm gì, mô hình nào được triển khai, loại tài sản nào có thể phát hành và phải đáp ứng những điều kiện nào.

Khi doanh nghiệp biết rõ luật chơi thì họ mới có thể tính toán đầu tư dài hạn. Đây cũng là điều các nhà đầu tư quốc tế quan tâm khi lựa chọn một thị trường. Không nhất thiết chính sách phải ưu đãi rất lớn, nhưng phải rõ ràng, ổn định và có khả năng dự đoán.

Những vấn đề như thuế, cấp phép, ngoại hối, lưu ký và bảo vệ nhà đầu tư chắc chắn cần được tiếp tục hoàn thiện. Nhưng theo tôi, chính sách cũng không nên chỉ tập trung vào hoạt động mua bán, giao dịch tài sản số.

Blockchain còn có rất nhiều mô hình kinh doanh khác. Nếu khung pháp lý chủ yếu chỉ giải quyết việc giao dịch tài sản số thì chúng ta mới khai thác được một phần của thị trường, trong khi tiềm năng của công nghệ blockchain còn rộng hơn nhiều.

Đặc biệt, cần có hành lang pháp lý để doanh nghiệp trong nước được phát hành tài sản số, đưa tài sản lên các sàn giao dịch và để nhà đầu tư nước ngoài có thể tham gia một cách minh bạch, có kiểm soát.

Ở đây cũng cần phân biệt token (đồng tiền điện tử) với chứng khoán truyền thống. Token có thể vừa là tài sản đầu tư, vừa được sử dụng trong hệ sinh thái, sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp phát hành. Nếu quản lý tất cả token như chứng khoán, có thể hạn chế những mô hình kinh doanh mới.

Vì vậy, Việt Nam cần một khung pháp lý đủ rõ nhưng cũng đủ mở để doanh nghiệp phát triển mô hình mới, đồng thời bảo đảm quyền lợi nhà đầu tư và khả năng quản lý của cơ quan Nhà nước.

Việc xây dựng khung pháp lý cho tài sản số là bước đi tích cực, đưa một lĩnh vực còn nhiều khoảng trống vào khuôn khổ quản lý. Có luật rồi thì tiếp tục sửa đổi, bổ sung theo thực tế. So với các nước phát triển, Việt Nam có thể chậm khoảng 1-2 năm, nhưng khoảng cách này không quá lớn. Quan trọng là chúng ta đã dám đi bước đầu tiên.

Từ nền tảng đó, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện chính sách để thị trường không chỉ có sàn giao dịch và hoạt động mua bán, mà còn hình thành các sản phẩm, doanh nghiệp và tài sản gắn với nền kinh tế trong nước. Khi đó, tài sản số mới có thể trở thành kênh thu hút dòng vốn quốc tế và tạo giá trị thực chất cho nền kinh tế.

Đối với Trung tâm tài chính quốc tế, đây cũng là một cơ hội nhưng không nên kỳ vọng chỉ có thị trường giao dịch tài sản số là lập tức thu hút được dòng vốn lớn. Cần gắn trung tâm này với doanh nghiệp, sản phẩm và tài sản được hình thành tại Việt Nam, đồng thời tạo cơ chế để dòng vốn quốc tế tham gia vào những tài sản đó.

Khi đó, thị trường tài sản số không chỉ thu hút vốn quốc tế mà còn có thể hỗ trợ Trung tâm tài chính quốc tế phát huy vai trò kết nối Việt Nam với dòng vốn toàn cầu.

Xin cảm ơn ông!

Theo Nghị định 284/2026/NĐ-CP, từ ngày 1/9, các vi phạm trong lĩnh vực tài sản mã hóa có thể bị phạt tới 200 triệu đồng đối với tổ chức và 100 triệu đồng đối với cá nhân.

Đáng chú ý, nhà đầu tư trong nước giao dịch tài sản mã hóa không thông qua tổ chức cung cấp dịch vụ được cấp phép có thể bị phạt 30-50 triệu đồng. Trường hợp giao dịch tài sản mã hóa được chào bán, phát hành dành cho nhà đầu tư nước ngoài, mức phạt có thể lên tới 70-100 triệu đồng.

Trong khi đó, đến nay chưa có sàn giao dịch tài sản mã hóa nào chính thức được cấp phép. Bộ Tài chính đã tiếp nhận 7 hồ sơ đăng ký thí điểm, trong đó 5 hồ sơ được đánh giá đầy đủ, hợp lệ, gồm SCEX, VIXEX, CAEX, TCEX và Công ty cổ phần Tài sản số Việt Nam.

Ông Tô Trần Hòa, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Quản lý thị trường giao dịch tài sản mã hóa, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, cho biết sau khi sàn đầu tiên được cấp phép, nhà đầu tư trong nước có 6 tháng để chuyển dần hoạt động giao dịch sang nền tảng được cấp phép.

Nhà đầu tư không bắt buộc phải chuyển toàn bộ tài sản đang nắm giữ về sàn trong nước. Tài sản vẫn có thể được lưu giữ trong ví cá nhân, nhưng khi phát sinh giao dịch mua bán thuộc phạm vi điều chỉnh thì phải thực hiện qua tổ chức được cấp phép.